Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2015

Quyền con người trong nhà nước pháp quyền



"Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc—-Rằng để đảm bảo cho những quyền lợi này, các chính phủ được lập ra trong nhân dân và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân, rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc cũng như tổ chức thực thi quyền hành theo một thể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất đối với an ninh và hạnh phúc của họ".

(Trích Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ, ngày 4 tháng 7 năm 1776)

Trong Tuyên ngôn độc lập của nhà nước Việt Nam dân chủ công hòa, ông Hồ Chí Minh, viết:

"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: "người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi".

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được".

Tuy nhiên có một thực tế là quyền của con người ở miền Bắc VN suốt hơn 85 năm, ở miền Nam VN từ 1975 đến nay, chưa bao giờ được tôn trọng.

Ngày 24 tháng 5 năm 2009, ông Trần Huỳnh Duy Thức – một doanh nhân trong lĩnh vực công nghệ thông tin, đồng thời là một blogger – đã bị bắt và khởi tố ban đầu với tội danh “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” theo điều 88 Bộ luật Hình sự Việt Nam chỉ vì ông đã thực hiện quyền tự do biểu đạt của mình một cách ôn hòa, là một ví dụ.

SGB xin được trích giới thiệu một bài viết của ông Trần Huỳnh Duy Thức về quyền con người trong nhà nước pháp quyền.

==================================

Chúng ta thường nghe nói pháp quyền là quyền thượng tôn pháp luật – Pháp luật đứng trên hết mọi đối tượng – và áp dụng cho mọi người như nhau.

Cách hiểu này còn được gọi là pháp trị (rule by law) tức cai trị bằng pháp luật. Tuy nhiên điều gì sẽ xảy ra khi Pháp luật lại bảo vệ một đối tượng nào đó trên hết, chẳng hạn một tư tưởng chủ nghĩa, một chế độ chính trị, một đảng phái trị nào đó, hay thậm chí là một con người nào đó?

Câu trả lời đã quá rõ ràng: điều đó sẽ dẫn đến sự chuyên chế (hay chuyên chính theo cách nói của những người Cộng sản) mà ở đó Pháp luật được sử dụng làm công cụ cai trị của giới cầm quyền để duy trì quyền lực và quyền lợi cho mình.

Đây chính là tính chất chính trị căn bản và đã trở thành bản chất của các chế độ phong kiến hay còn gọi là quân chủ chuyên chế mà đối tượng bảo vệ trên hết của nó là vua.

Xâm phạm vua là tội đại nghịch, là tội đứng đầu trong luật hình sự và có mức hình phạt khủng khiếp nhất. Tương tự như vậy, ở các chế độ đảng trị thì bảo vệ đảng cũng là trên hết.

Các chế độ độc tài chuyên chế đang tồn tại ngày nay cũng với một bản chất như vậy, chỉ có khác về hình thức, chẳng hạn như vua bây giờ có thể là một (dù với một danh xưng khác), có thể là nhiều ví dụ như một nhóm chóp bu của một đảng hoặc là một chế độ chính trị gắn với một tư tưởng chủ nghĩa nào đó.

Việc xâm phạm đến các chế độ và chủ nghĩa đó luôn bị quy là tội nặng nhất đứng đầu trong các tội hình sự.

Ở Việt Nam các tội gọi là xâm phạm an ninh quốc gia được dành hẳn một chương đầu tiên của phần tội phạm của bộ luật hình sự, hầu hết có khung hình phạt cao nhất có án tử hình, như điều 79 – lật đổ chính quyền nhân dân, điều 88 – tuyên truyền chống phá nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bằng cách như vậy và theo tinh thần pháp trị – thượng tôn pháp luật, giới cầm quyền ở các chế độ như thế luôn dễ dàng đứng trên pháp luật, dùng pháp luật để bảo vệ đặc quyền riêng cho mình trên danh nghĩa bảo vệ an ninh quốc gia.

Sự thượng tôn pháp luật kết cục là để bảo vệ tối thượng cho một nhóm đối tượng nhỏ hẹp nào đó dưới rất nhiều các danh nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Thực ra chế độ phong kiến chưa hoàn toàn chấm dứt, chỉ có cái tên của nó là không còn hợp thời nữa nên phải dùng đến những cái tên hình thức khác nhau để che đậy bản chất không thay đổi của nó.

Như vậy, sự thượng tôn pháp luật là không đủ để đảm bảo cho một chế độ dân chủ. Đây chỉ là ý nghĩa thứ cấp của pháp quyền (rule of law).

Ý nghĩa sơ cấp của pháp quyền là sự bảo vệ các quyền của con người bằng pháp luật (hiến pháp và luật), kết hợp với ý nghĩa thứ cấp như trên sẽ dẫn đến kết quả là quyền con người sẽ được bảo vệ ở vị trí cao nhất của pháp luật.

Và do đó Nhà nước Pháp quyền (The rule of law) là một nhà nước mà bất chấp hình thức của nó là gì đi nữa thì pháp luật của nó phải bảo vệ các quyền của con người trên hết mọi đối tượng khác một cách bình đẳng cho bất kỳ công dân nào của nó mà không được có bất kỳ sự phân biệt nào về các thuộc tính sinh học, địa vị xã hội lẫn quan điểm chính trị của họ, cho dù đó là những cái thuộc về thiểu số rất nhỏ.

Nói cách khác, nhà nước pháp quyền là một sự ủy trị để đại diện cho từng công dân một để bảo vệ quyền con người của anh ta một cách bình đẳng với tất cả mọi công dân khác mà không có bất kỳ đối tượng nào khác được đặt lên trên các quyền đó của anh ta.

Sự bảo vệ ở đây phải bao gồm sự đảm bảo để anh ta sử dụng được đầy đủ các quyền con người của mình, ngăn ngừa người khác xâm phạm các quyền này của anh ta và ngăn ngừa anh ta xâm phạm các quyền này của người khác.

Cho dù anh ta có bỏ phiếu cho nhà nước đó hay không thì nó vẫn phải bảo vệ cho anh ta như vậy, ngay cả lúc anh ta bị phạm pháp đi nữa.

Quyền con ngưởi tối thượng

Một nhà nước làm được như vậy thì tất yếu nó là một nhà nước dân chủ mà không cần phải gắn thêm thuộc tính “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ” làm chi trừ khi chỉ sử dụng nó như là một khẩu hiệu.

Dân chủ là một tính chất của xã hội được hình thành nên từ sự vận động trong thực tế cuộc sống của con người chứ không phải là một hình thức xã hội, một phương thức cai trị hoặc một mô hình chính trị.

Do vậy chúng ta hay thấy rằng có rất nhiều nước mang những cái tên dân chủ hay nhân dân thường lại là những nước phản dân chủ nhất, áp đặt nhân dân chuyên chế nhất.

Một xã hội sẽ có tính chất dân chủ chỉ khi nào người dân ở đó thực sự làm chủ chính mình – tức có thể sử dụng đầy đủ quyền con người của mình mà không cần xin phép ai và cũng không ai có quyền cho phép họ. Muốn làm được như vậy thì phải tuân thủ các nguyên tắc “Quyền con người trong nhà nước pháp quyền” như nêu trên.

Quy luật để công bằng

Có một thời, vào lúc mà chủ nghĩa Cộng sản đang thịnh hành, người ta đã tin rằng có thể đạt được sự công bằng bằng cách áp đặt tư tưởng giống nhau tuyệt đối cho con người và cào bằng nhu cầu vật chất của họ.

Nhưng học thuyết đó đã thất bại ê chề, đơn giản vì nó không hợp với quy luật tự nhiên của con người – tư tưởng và nhu cầu của con người không bao giờ có thể đồng nhất như nhau được.

Và chính sự đa dạng của những cái này làm cho xã hội loài người phát triển. Cưỡng bức để đồng nhất những cái đó đã làm cho sắc màu của cuộc sống xám xịt và xã hội lạc hậu đến mức nào thì chúng ta cũng đều đã chứng kiến.

Nhưng nếu có một quy luật về tinh thần giúp đạt được công bằng thì phải tồn tại một thành tố nào đó mà tính chất của nó đối với tất cả mọi người phải tuyệt đối giống nhau bất chấp sự khác biệt về thuộc tính của họ như màu da, sắc tộc, xuất thân, địa vị, tư tưởng, v.v…

Tương tự như thành tố thời gian vậy: ai cũng có được 24 giờ một ngày như nhau tuyệt đối bất kể họ sống ở đâu. Cho dù không quá phức tạp nhưng phải mất mấy ngàn năm và phải sau khi đã trải qua thảm họa của Thế chiến II thì nhân loại mới có thể thừa nhận rộng rãi rằng: Quyền con người là tuyệt đối như nhau cho bất kì ai là con người đang sống bất kỳ đâu trên hành tinh này.

Đây chính là nguyên tắc phổ quát của Tuyên ngôn Toàn thế giới về Quyền con người mà Liên hợp quốc đã long trọng tuyên bố vào năm 1948. Nguyên tắc phổ quát đó cũng chính là quy luật của vũ trụ mà người ta không thể thay đổi được.

Rõ ràng là như vậy vì không ai có thể làm cho người khác tự nhiên không muốn mình có quyền được sống, được tự do, được an toàn cá nhân để hạnh phúc. Dùng quyền lực có thể áp đặt, tước đoạt các quyền đó của con người nhưng không thể làm cho họ thôi khát khao có chúng.

Như vậy Quyền con người chính là thành tố có tính chất bất biến và tuyệt đối bình đẳng đối với mọi người. Và nếu đảm bảo tôn trọng thành tố này thì chúng ta sẽ có được sự bình đẳng tuyệt đối cho từng người có được tất cả quyền con người hoàn toàn giống nhau như ai cũng có 24 giờ/ngày vậy.

Không ai có thể cho ai hoặc lấy đi của ai các quyền và thời giờ của họ cả. Đến khi đó ai nỗ lực tốt, biết tận dụng tốt hơn các quyền con người và thời giờ của mình thì sẽ có quyền sở hữu nhiều thành quả hơn nên sẽ vượt trội hơn.

Đây chính là sự bình đẳng cơ bản mà nó không chỉ tạo ra động lực lành mạnh thúc đẩy con người nỗ lực vươn lên mà còn là một cái nền không thể thiếu để kinh tế thị trường vận hành một cách đúng đắn: muốn vươn lên phải cạnh tranh để đáp ứng nhu cầu của người khác thay vì giành giật và chà đạp.

Và khi đó xã hội loài người sẽ phát triển nhanh chóng vì nhu cầu vật chất lẫn tinh thần của họ liên tục được đáp ứng một cách tốt nhất.

Quy luật bàn tay vô hình sẽ tự nhiên điều tiết nhu cầu và việc đáp ứng nhu cầu để đạt được một trạng thái cân bằng tối ưu. Tuy nhiên bàn tay vô hình không tự điều tiết được ở một số lĩnh vực và tình huống, chẳng hạn: đơn giản thì có bảo đảm an toàn thực phẩm phức tạp hơn là bảo vệ môi trường, hơn nữa là thuế và các chính sách vĩ mô khác như an sinh, lợi ích cộng đồng, … cho nên phải cần bàn tay hữu hình – chính là vai trò điều tiết của nhà nước.

Mà khi sự bình đẳng tuyệt đối được đảm bảo thì nhà nước lúc đó chính là nhà nước pháp quyền để bảo vệ quyền cho mỗi người. Nhờ vậy nó sẽ điều tiết các vấn đề trên đạt đến trạng thái cân bằng quyền lợi cho mọi người theo quan điểm của đa số.

Trạng thái đó là sự bình đẳng phổ biến mà sẽ thường xuyên biến đổi theo ý muốn thay đổi của con người, kéo xã hội phát triển lên theo đà tiến bộ về văn hóa của con người, làm cho con người ngày càng thịnh vượng hơn, văn minh hơn.

Thịnh vượng hoặc bất ổn

Trên là cách để chúng ta xây dựng một xã hội ngày càng công bằng hơn nhờ vậy mà thịnh vượng và văn minh hơn. Giá trị của cách này là ở chổ nó tạo ra một sự cân bằng thực chất giữa mọi người để họ thực sự chấp nhận trạng thái bình đẳng phổ biến vì họ đã có đủ quyền tự do để tranh đấu hoặc lựa chọn cho điều họ mong muốn. Chứ không phải giá trị của nó nằm ở chổ đúng sai của các quan điểm chuẩn tắc được lựa chọn.

Ở đây không có đúng hoặc sai, chỉ có quan điểm nào thuyết phục được càng nhiều người thì càng phù hợp cho bối cảnh từng giai đoạn. Không bao giờ có chân lý tuyệt đối ở các quan điểm này.

Mọi sự áp đặt quan điểm công bằng không những đã chứa đựng mầm mống bất công mà còn tạo ra sự bất mãn mà ngay cả có dùng quyền lực để ép buộc đi nữa thì cũng chỉ gây ra sự đè nén chứ không phải cân bằng, sự chịu đựng chứ không phải chấp nhận. Do vậy nó luôn tạo ra sự bất ổn triền miên rồi dẫn đến sụp đổ khi sự đè nén và chịu đựng đã tới hạn.

Tình trạng bất ổn lâu nay ở đất nước ta có nguồn gốc như thế nên nếu chúng ta không nhìn nhận và giải quyết vấn đề từ gốc thì mọi nỗ lực ổn định vĩ mô đều sẽ thất bại, gây thêm tai họa.

Trần Huỳnh Duy Thức


Vị đắng

Do không hỏi trước địa chỉ nên tôi tìm đến nhà anh khá lận đận. Ngày xưa, các cụ thường dạy “đường đi là ở miệng mình”. Tôi cứ tưởng tới cái thị trấn nhỏ bằng lòng bàn tay, hỏi ông giám đốc bị tù oan là tức khắc có người biết và chỉ đường.

Một ông già ngồi trầm tư trong quán sách báo, khi nghe tôi hỏi, lắc đầu mà rằng “Anh hỏi một người bị oan mà không nói rõ đặc điểm. Chịu. Người bị oan ở đời bây giờ thiếu gì. Chắc anh ít đọc báo!”. Rồi ông lại bình thản, trầm tư như không có chuyện gì xảy ra.

Vẻ chai sạn và phớt đời của một ông già khiến tôi giật mình. Ông không biết thật hay biết mà không nói? Phải chăng cái chuyện tôi cho là “động trời” ấy, hơn một năm qua đã bị người ta lãng quên, hay nó bình thường đến nỗi không cần nhớ, để nó chìm sâu dưới những chai sạn và lo toan vất vả của đời thường?

Cuối cùng thì vẫn có người chỉ đường cho tôi. Hóa ra tôi đã “lỡ trớn” một đoạn đường gần bảy cây số. Tôi đành lội bộ trong mưa trở lại tìm vào nhà anh. Đó là một căn nhà nhỏ, đơn sơ trong cái vẻ nghèo nàn. Gặp tôi, anh ngạc nhiên đến sững sờ.

Mấy đứa trẻ lem nhem tròn xoe mắt nhìn khách lạ, vẻ sợ sệt. Vợ anh, người phụ nữ nhỏ nhoi, ốm yếu nhìn tôi phân bua: “Chúng nó cứ sợ người ta lại đến bắt ba đi. Khổ thế anh ạ!”. Rồi chị quơ tay quàng mấy đứa ngồi xuống an ủi: “Bác ấy là người tốt, không sao đâu, các con”.

Tôi nói rõ mục đích của chuyến đi. Anh ngồi trầm ngâm, lát sau mới nhìn thẳng vào tôi, nói chậm rãi: “Thôi, xin anh miễn cho. Viết lại để làm gì. Chuyện đã qua rồi, cho qua luôn. Tôi muốn được yên ổn làm ăn nuôi mấy đứa. Tụi nó cực quá”.

Tôi tự trách mình vội vàng, không lường trước tình huống này. Vậy là kiểu phỏng vấn cổ truyền của tôi đã thất bại. Anh như con chim chết hụt sợ cành cây cong, thu gọn mình trong cái tổ cũ kỹ, xơ xác, an phận thủ thường.

Đến tận nơi, tôi mới biết cái gánh gia đình đè lên vai anh quá nặng. Một người vợ mỏi mòn, ốm yếu với một đàn con lóc nhóc bốn đứa, lớn nhất sáu tuổi và nhỏ nhất chưa đầy năm.

Tôi không trách anh, chỉ tự nhiên thấy lòng mình xót xa khi nghe những lời đó thoát ra từ miệng một đảng viên cộng sản, nguyên là người lính đã từng có những năm tháng đối mặt với kẻ thù. Thông cảm với anh, tôi đành hứa đại là sẽ không viết gì cả, để anh yên lòng.

Đêm ấy, chúng tôi ngồi với nhau rất lâu. Anh kể tôi nghe về cuộc đời mình với những năm tháng chiến đấu ở chiến trường. Anh như quên đi những nỗi đau vừa qua để đắm mình trong cái không khí yêu thương của tình đồng đội, nhắc lại những kỷ niệm đẹp đẽ của một thời con người biết sống có trách nhiệm với nhau.

Chất lính như có men, bén vào từng lời làm cái giọng của anh ngày càng sôi nổi. Bỗng anh hạ giọng đột ngột:

- Vậy mà bây giờ… tôi có cảm tưởng những cái đó đã vĩnh viễn mất đi, khó lấy lại được nữa. Đành rằng thời thế đã thay đổi nhưng tôi không tin những đổi thay ấy lại có thể dễ dàng làm mất đi những giá trị truyền thống cao đẹp trong quan hệ giữa con người. Như chuyện của tôi chẳng hạn, đến bây giờ tôi cũng không cắt nghĩa được vì sao người ta lại đối xử với tôi như thế…

Tôi biết là câu chuyện đã bắt đầu vào mạch của nó nên chỉ im lặng chờ đợi. Anh ngồi mơ màng như hồi tưởng lại những gì đã xảy ra với mình trong mấy năm qua. Đêm ở đây yên tĩnh đến lạ lùng….

Anh dừng lại, lắc đầu, chiêu một ngụm nước lấy giọng: “Tôi có linh cảm mấy ông cố tình làm to chuyện, nếu không muốn nói là ác ý với tôi, đẩy tôi xuống hố. Tôi không chịu thì bảo tôi ương bướng.

Thật ra, nếu tôi có tội thì chỉ là có tội ấy thôi. Thế là các vị không bằng lòng, vạch lá tìm sâu, bới lông tìm vết. Bởi vì có những cái sờ sờ ra để chứng minh rằng tôi không có tội thì họ cố quên đi, không cần đếm xỉa, còn những cái lặt vặt ở đâu đó thuộc về khuyết điểm hành chánh, thậm chí có những cái thuộc quyền tự chủ của giám đốc thì lại chịu khó nhặt nhạnh đưa vào bản cáo trạng để kết tội tôi cố ý làm trái. Tôi như cá nằm trên thớt, càng quẫy càng chết vì dao sẵn ở trong tay họ mà…

Thấy anh ngừng lại, tôi hỏi: “Vì sao khi nghe tòa phúc thẩm tuyên vô tội, anh lại khóc?”.

- Thú thật với anh, tôi vốn là người cứng rắn. Trong đời, tôi chỉ khóc một lần (tất nhiên là trừ quãng đời trẻ con ra, trẻ con đứa nào chả khóc, mới lọt lòng đã khóc cơ mà).

Đó là lần chúng tôi chôn một thằng bạn thân bị bom tại đồi quan sát trên một đỉnh núi trong đêm đầu xuân, dưới mưa rơi lất phất. Đêm đó, thương bạn, nhớ nhà khiến tôi đã không cầm được nước mắt, còn thì tôi chưa khóc bao giờ. Đàn ông khóc là hiếm lắm.

Ngay lúc bị bắt giam hoặc khi tòa sơ thẩm tuyên tôi có tội, phạt tù, tôi đâu có khóc. Khóc như thế là hèn. Nhưng lúc đợi tòa phúc thẩm nghị án, lòng tôi cứ thắc thỏm, bồn chồn như có lửa cháy.

Tôi hy vọng thì ít mà thất vọng thì nhiều. Vì bây giờ, cái chuyện “phủ bênh phủ, huyện bênh huyện” nào đã hết đâu. Nhưng may thay, tòa án tỉnh đã rất công minh khi tuyên rằng tôi vô tội. Thế là chút hy vọng nhỏ nhoi trong tôi đã thành sự thật. Sự thật ấy làm tôi bất ngờ. Tôi hạnh phúc quá.

Nhưng bên trong niềm hạnh phúc muộn mằn ấy, nỗi tủi hận lại trào lên. Tôi nghĩ tới cái cảnh bị bắt giam lần đầu đến tám tháng trời. Đâu phải chỉ có thế.

Điều đau đớn hơn là khi đã hết quyền ra hạn tạm giam tôi, họ bày ra lý do là vụ án quá phức tạp ngoài khả năng giải quyết của cấp huyện, phải chuyển về tỉnh. Thế là ngày 28 Tết, trong khi mọi gia đình đang hối hả chuẩn bị đón xuân mới, họ đã nhẫn tâm đến mức bất kể vợ tôi vừa sanh con được ít ngày, đang cần có tôi ở bên thì lại đưa tôi lên trại tạm giam của tỉnh.

Anh cứ hình dung cái cảnh một người chồng vô tội bị đưa đi giam tiếp vào những ngày năm hết tết đến, trong khi người vợ mới sanh, lại còn phải nuôi ba đứa con nhỏ dại trong cảnh đơn chiếc, sẽ thấy đau đớn đến thế nào.

Sau đó họ lại đưa tôi về trại tạm giam của huyện vì vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh. Những cái đó khiến tôi uất hận và tự nhiên sinh ra thù ghét con người, mất đi niềm tin thiêng liêng vào những điều tốt đẹp.

Vâng, tôi hạnh phúc là đã được minh oan. Nhưng cái hạnh phúc ấy đến với tôi quá muộn. Vì tôi tự thấy cái giá mình phải trả đắt quá.

Tôi vô tội! Vậy thì ai phải trả cho tôi cái giá của suốt mười tháng trời mất tự do, “một ngày tù nghìn thu ở ngoài”? Ai phải trả cho vợ con tôi cái giá của những tháng ngày khổ nhục khi cô ấy đau đớn trong cảnh một mình “vượt cạn”, chèo chống nuôi con?

Rồi nước mắt của mấy mẹ con nằm ôm nhau trong những ngày tết nhất? Những cái đó, nói thật với anh, không ai có thể tính được. Thật lòng hôm ấy, tôi không biết là mình đã khóc. Nước mắt cứ tự nhiên chảy ra thôi.

Nếu biết, tôi đã không để cho mọi người thấy là tôi đã khóc. Nhưng mà thôi, chuyện đã qua, nói lại làm gì nữa. Tôi còn quãng đời dài lắm, ráng quên đi để mà sống cho vợ, cho con…

Anh bỗng lắc đầu, cười vẻ chua chát: “Anh biết không, đứa lớn nhà tôi nó bảo: “Ba ơi, ba đừng làm giám đốc nữa nhé. Con sợ ba phải đi tù lắm”.

Tôi mới cười, bảo nó: Đâu phải cứ làm giám đốc là bị đi tù, hả con? Giám đốc cũng có ba bảy đường con ạ. Ừ thôi, ba không làm nữa, ba ở nhà với con. Thế đấy anh ạ.

Tôi bây giờ không có ham muốn gì khác ngoài cái việc sẽ làm một người dân lương thiện, sớm khuya cày cuốc gieo trồng. Không phải tôi thối chí đâu. Thật ra, những chuyện như tôi, ở đời bây giờ đâu phải là hiếm. Tôi là người còn may mắn. Ngoài xã hội, còn có nhiều người không được may mắn như tôi, phải không anh. Thôi, khuya rồi, ta đi ngủ, anh nhỉ?.

Anh vội đứng dậy, đi thu xếp chỗ ngủ cho tôi. Nhưng làm sao mà tôi ngủ được khi vừa nghe những lời của anh như rỉ máu. Tôi nằm miên man suy nghĩ về những giọt nước mắt.

Chúng ta đang sống những ngày tháng sôi động của bao nhiêu chuyện trong xã hội. Cái ác, cái tiêu cực đang còn tồn tại dưới nhiều hình vẻ khác nhau. Đó là căn nguyên của những nỗi đau, của những giọt nước mắt người đời.

Tôi chợt nhận ra cái đã ẩn sâu bên trong những giọt nước mắt của anh, một người đã có cái hạnh phúc được minh oan.

Phải rồi! Đó là vị đắng của nước mắt…

Nhớ lại câu chuyện đã qua, tôi bỗng có một ước mong: làm sao đừng để có những vị đắng trong giọt nước mắt của con người.

Minh Tâm


Trung Quốc hết đường bao biện?

Trong một bài phân tích đăng trên The Diplomat hôm 23/5 vừa qua, chuyên gia Ankit Panda chỉ ra cách Thượng viện Mỹ có thể giúp Mỹ chế ngự Trung Quốc và ổn định tình hình Biển Đông.

Về mặt bản chất, việc Mỹ điều động máy bay và sắp tới có thể là cả tàu tới bán kính 12 hải lý xung quanh đảo nhân tạo do Trung Quốc xây dựng trái phép là để khẳng định Bắc Kinh đang vi phạm Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS) trên Biển Đông.

Tuy nhiên, chính đây lại là vấn đề, bởi Mỹ là một trong số ít các nước trên thế giới chưa ký kết tham gia công ước này, và gần như chắc chắn Trung Quốc sẽ tận dụng kẽ hở đó để bao biện cho các tuyên bố chủ quyền ngang ngược của mình trên Biển Đông.

Xét một cách rộng hơn, theo The Diplomat, thì dù Mỹ chưa chính thức ký kết UNCLOS, chính sách trên biển của Washington vẫn công nhận công ước này như một phần của luật pháp quốc tế.

Nói cách khác, Mỹ vẫn "cư xử" trên biển theo đúng những luật lệ định ra trên UNCLOS, và coi nó như quy chuẩn quốc tế về mặt an ninh hàng hải.

Tuy nhiên, nếu như Mỹ muốn "làm gương" trên Biển Đông, thì chỉ chấp thuận công ước một cách mặc định thôi là chưa đủ, đặc biệt là khi nước này đang động chạm đến một vấn đề hết sức nhạy cảm trong an ninh hàng hải - quyền tự do đi lại.

Vì lẽ đó, The Diplomat nhận định, chính phủ Mỹ cần đặt ưu tiên hàng đầu cho việc chính thức phê chuẩn và ký kết công ước UNCLOS nếu như Washington vẫn muốn tiếp tục sự hiện diện của mình trên Biển Đông.

Để làm được điều đó, 2/3 nghị sĩ Thượng viện Mỹ sẽ phải đặt bút phê chuẩn dự luật tham gia UNCLOS, điều mà phe bảo thủ trong bộ máy chính trị Washington từ trước đến nay vẫn cương quyết phản đối do lo ngại ảnh hưởng tới lợi ích quốc gia.

Tuy nhiên vào điểm này, khi nghị sĩ cả hai đảng đều đồng tình cho rằng sự bành trướng của Trung Quốc là một mối đe dọa cho tầm ảnh hưởng của Mỹ tại châu Á - Thái Bình Dương, The Diplomat cho rằng họ nên có một cách tiếp cận phù hợp cho ưu tiên này.

Thêm vào đó, kể từ khi được thành lập vào năm 1982 cho đến nay, nội dung UNCLOS cũng đã có nhiều thay đổi theo hướng có lợi cho Mỹ, chỉnh sửa hoặc bỏ qua một số điều khoản từng khiến Washington từ chối không ký kết phiên bản đầu tiên của công ước.

The Diplomat nhận định, chính phủ Obama cũng như các lãnh đạo cấp cao trong quân đội Mỹ đều nhận ra tầm quan trọng của việc sớm chính thức ký kết UNCLOS đối với thanh thế của Mỹ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nhất là trên Biển Đông.

Năm ngoái, chính Tổng thống Obama cũng từng phát biểu: "Sẽ rất khó để chúng ta có thể kêu gọi Trung Quốc xử lý các tranh chấp chủ quyền theo UNCLOS khi mà ngay chính Thượng viện Mỹ vẫn không phê chuẩn công ước này".

Tương tự, hồi 2012, Ủy ban Đối ngoại Thượng viện đã triệu tập 6 Đại tướng và Đô đốc quân đội Mỹ để điều trần về vấn đề này. Kết quả là cả 6 tướng đều ủng hộ việc Mỹ chính thức ký kết UNCLOS.

The Diplomat nhận định, dù ông Obama hiện mất cả lưỡng viện vào tay đảng Cộng hòa, nhưng đối với vấn đề Trung Quốc bành trướng trên Biển Đông, đôi bên hoàn toàn có thể "bắt tay tạm thời" để đối phó với những toan tính của Bắc Kinh.

Điều này có thể thấy khá rõ trong việc mới đây, Thượng viện Mỹ đã "bật đèn xanh" cho ông Obama đẩy nhanh tiến trình đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược (TPP) với các nước trong khu vực. TPP được coi là một hình thức để Mỹ kiểm soát tầm ảnh hưởng của Trung Quốc về mặt kinh tế trong khu vực.

Do đó, nếu như Thượng viện Mỹ có thể tạm gác những bất đồng với Obama sang một bên và sẵn sàng hậu thuẫn ông chủ Nhà Trắng trong mục tiêu TPP, thì việc họ sẽ làm tương tự trong chiến dịch khống chế Trung Quốc trên Biển Đông là hoàn toàn có thể xảy ra.

Và một khi đã "đường đường chính chính" là một bên tham gia UNCLOS, sự hiện diện của Mỹ trên các khu xây dựng trái phép của Trung Quốc trên Biển Đông sẽ có trọng lượng hơn gấp bội, khiến Bắc Kinh không thể tiếp tục viện cớ được nữa.
Đức Huy

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2015

Học sinh Mỹ bê bết trong các kỳ thi quốc tế, thì đã sao...

Kết quả của một kỳ thi quốc tế quan trọng với tên PISA1 vừa được công bố, và học sinh Mỹ một lần nữa lại làm bài chẳng ra làm sao: Học sinh tuổi 15 của chúng ta bê bết môn Toán, đạt trung bình môn Đọc hiểu và Khoa học, và nhìn chung các em hoàn toàn bại trận trước những người đồng lứa từ những vùng như Thượng Hải, Nhật, Hàn Quốc, Phần Lan.

Dường như đã là một truyền thống của nước Mỹ. Ngay từ thập niên 1960, học sinh Mỹ thường xếp hạng áp chót ở hầu hết các phần của bài thi trong Nghiên cứu về môn Toán quốc tế lần thứ nhất (FIMS).

Trong báo cáo có tựa đề “Đất nước lâm nguy” (A Nation at Risk), Ủy ban đặc trách giáo dục của Nhà trắng thậm chí đã tuyên bố kết quả học tập của học sinh Mỹ như vậy đã trở thành một mối đe dọa đến sự thịnh vượng về kinh tế và an ninh của đất nước.

Báo cáo đó được viết từ năm 1983, và trong suốt mấy chục năm qua chúng ta vẫn kém cỏi trong các kỳ thi. Nhưng mức phát triển của chúng ta chưa bao giờ thua các nước phát triển khác. Vậy thì tại sao bây giờ lại phải lo lắng?

Đầu óc được xem là kém cỏi của người Mỹ vẫn xoay sở sao đó để phát minh ra được Internet. Và coi kìa, dù người Mỹ vốn be bét trong môn Toán ở phổ thông, nhưng những thiên tài toán học của chúng ta ở Phố Wall vẫn có thể suýt làm cả thế giới sập tiệm vì các mô hình quản trị rủi ro rất thuyết phục trên giấy mặc dù sai bét trên thực tế.

Có một câu trả lời đến từ ông Eric Hanushek, một nhà kinh tế học giáo dục và một là người ủng hộ cải cách nhà trường phổ thông từ Học viện Hoover, một đơn vị có tư tưởng bảo thủ thuộc ĐH Stanford (bạn có thể cũng đã nghe tên ông với tập tài liệu có tựa là “Chờ đợi Siêu nhân” (Waiting for Superman).

Ông và các đồng sự đưa ra lập luận rằng điểm thi có thể giúp tiên đoán sự tăng trưởng kinh tế, vì các quốc gia thông minh hơn cũng là những quốc gia có nhiều phát minh và nền sản xuất tốt hơn, và có thể thu hút được đầu tư nước ngoài nhiều hơn.

Nếu có thể tăng điểm thi của mình lên cho bằng với mức của Canada, ví dụ thế, thì Mỹ có thể tăng thêm 77 ngàn tỷ USD cho nền kinh tế của họ trong vòng 80 năm tới.

Dựa trên một cuộc nghiên cứu (nay đã được xuất bản thành một cuốn sách) so sánh điểm thi và sự tăng trưởng của 50 quốc gia từ năm 1960 đến năm 2009, Hanushek và các cộng sự của ông lập luận, nước Mỹ đã tăng trưởng cao hơn dự đoán nếu xét theo điểm thi của học sinh mình.

Nhưng ông cho rằng cơ hội này có lẽ sắp không còn nữa bởi vì mức tăng trưởng này phản ánh những lợi thế mang tính lịch sử mà nước Mỹ đã có được lâu nay.

Kinh tế Mỹ được xây dựng dựa trên các thị trường mở, quyền tư hữu vững chắc và mức thuế nhìn chung là dễ chịu; một hệ thống giáo dục đại học thuộc hàng nhất thế giới; và chính sách nhập cư cởi mở cho phép những người có trình độ cao vào làm việc.

Nhưng những lợi điểm trên đang giảm đi vì các quốc gia khác hiện cũng đang áp dụng những thể chế và phương pháp tương tự như Mỹ. Nói cách khác, giờ đây khi Trung Quốc đã trở thành một nền kinh tế thị trường, thì chúng ta có thể dự đoán rằng những nơi như Thượng Hải sẽ giành mất phần ăn của chúng ta.

Nhưng có đúng thế không nhỉ? Như tác giả Rebecca Strauss thuộc Hội đồng quan hệ quốc tế đã nêu hồi đầu năm nay, mối liên hệ giữa điểm thi toán và khoa học với sức mạnh của nguồn nhân lực dường như không được rõ ràng cho lắm.

Ở Trung Quốc, người ta đang ngày càng ý thức hơn về “tình trạng điểm thi cao, năng lực thấp” của nguồn nhân lực, với những con người khi ra đời làm việc không thể nào phát triển được, nhưng lại có điểm thi đầu vào đại học (gọi là kỳ thi Cao khảo) rất cao, và điểm học tập trong quá trình ở đại học cũng rất tốt.

Mối liên hệ giữa điểm thi môn Toán và những đặc điểm nhân lực cần có của một đất nước sáng tạo thì lại càng mơ hồ hơn nữa. Xin hãy tạm gác Thung lũng Silicon và nước Mỹ sang một bên.

Thay vào đó, chúng ta thử xét trường hợp Israel, một quốc gia khác có điểm thi chỉ ở hạng thường thường bậc trung nhưng lại là một trung tâm khởi nghiệp và sản xuất phần mềm đáng kể, nơi nhận được mức vốn đầu tư tính theo tỷ lệ GDP cao hơn bất cứ quốc gia khác nào trên thế giới.

Hoặc thử xét điện thoại thông minh. Hãng Apple rõ ràng đã thành công vì biết kết hợp công nghệ với sự phán đoán hợp lý về nghệ thuật của Steve Jobs. Hãng Nokia, đơn vị có tỷ lệ đóng góp chiếm đến một phần tư sự tăng trưởng của Phần Lan trong thập niên từ 1998 đến 2007, đã bán những chiếc điện thoại thời trang được thiết kế bởi một thanh niên người California là Frank Nuovo (nhân tiện, anh chàng này hồi còn tuổi học sinh chỉ suốt ngày gõ trống trong một ban nhạc Jazz Fusion, chứ chẳng hề bỏ thời gian học hành thi cử gì cả).

Có người thậm chí còn cho rằng quá nhấn mạnh thi cử có thể sẽ gây hại cho sự phát triển kinh tế. Sau khi phát hiện ra rằng điểm thi Toán trong kỳ thi FIMS năm 1964 có tương quan nghịch với mức độ tăng trưởng kinh tế, ông Keith Baker, nguyên là nghiên cứu viên của Bộ Giáo dục, đã viết:

Trong số các quốc gia đạt điểm cao, một trình độ học vấn nào đấy – như được phản ánh qua điểm thi – đúng là cần thiết để tạo thành một bệ phóng cho sự thành công của đất nước. Nhưng một khi đã vượt qua ngưỡng ấy thì những yếu tố khác sẽ trở nên quan trọng hơn là tiếp tục cố gắng tăng điểm thi.

Thực vậy, một khi đã đạt đến ngưỡng đó rồi, nếu vẫn cứ cố gắng tăng điểm số thì đó là một chính sách sai lầm bởi vì điều này sẽ làm phân tán mối quan tâm, nỗ lực, và nguồn lực mà lẽ ra cần được tập trung vào những yếu tố quan trọng hơn cho sự thành công của một quốc gia.

Lịch sử gần đây của Nhật cũng khiến ta thêm nghi ngờ về giả thuyết rằng có mối liên hệ giữa điểm thi và số phận của mỗi quốc gia.

Đã từng là nỗi ám ảnh về kinh tế của nước Mỹ trong thập niên 1990, trong hai thập niên gần đây nền kinh tế của quốc gia này đã trở nên trì trệ, do những sai lầm trong chính sách kinh tế vĩ mô, mặc dù hệ thống giáo dục của nước Nhật được cả thế giới ca ngợi đã tạo ra những học sinh có kết quả thi rất tốt.

Tất cả những điểm nêu trên không có nghĩa là chúng ta nên vứt bỏ những kỳ thi như PISA. Nó chỉ ra những vấn đề nghiêm trọng của nền giáo dục của chúng ta, như sự cách biệt về kết quả giữa học sinh giàu và nghèo, hoặc thái độ dửng dưng đối với môn Toán của cả nước.

Như GS Martin Carnoy thuộc ĐH Stanford, một người phê phán quan điểm của Hanushek, đã phát biểu: “Điểm thi chắc chắn liên quan đến nguồn vốn nhân lực của một quốc gia.”

Nhưng, ông cũng nói thêm, điểm thi thấp không có nghĩa là không còn hy vọng về tăng trưởng kinh tế. Và điều này sẽ làm cho bọn đần độn người Mỹ chúng ta có thể an lòng đôi chút.

Jordan Weissmann
(Phương Anh dịch)


Người quay phim đang bị công an "mời"

Clip có độ dài 10'38, chứ không phải chỉ hơn 3' như nội dung mà chủ tịch xã Ia Trôk, nói. Ông chủ tịch xã xác nhận chính ông là người đã lệnh cho công an đi bắt Lê Tiến Phú.
Ngày 23-5, trên mạng xã hội xuất hiện video clip dài hơn 3 phút ghi lại cảnh ông Phạm Thành Trung, Trưởng công an xã Ia Trôk, huyện Ia Pa - tỉnh Gia Lai dùng bình xịt hơi cay xịt tới tấp vào một người thanh niên khiến người này giảm 90% thị lực.

Theo ông Trung, 12 giờ 15 ngày 22-5, sau khi nhận chỉ đạo của Chủ tịch UBND xã Ia Trôk, lực lượng công an xã xuống giải quyết vụ xô xát tại đám cưới ở thôn Quý Tân.

Khi đó, Lê Tiến Phú có biểu hiện uống rượu, bia, xô xát và đánh nhiều người khác. Khi lực lượng công an yêu cầu về trụ sở xã làm việc thì Phú không chấp hành mà cự cãi, thách thức, có hành vi chống đối quyết liệt. Trước hành động hung hãn này ông buộc phải dùng bình xịt hơi cay khống chế.

“Lê Tiến Phú là thanh niên côn đồ, gây gổ với nhiều người. Thời điểm tôi có mặt Phú không chấp hành nên buộc phải sử dụng công cụ hỗ trợ. Đến ngày 23-5, Phú đã khoẻ mạnh trở lại” - ông Trung nói.

Ông Võ Hưng Quang – Chủ tịch UBND xã cho biết thêm trước khi yêu cầu công an xã tới giải quyết vụ xô xát tại đám cưới ở thôn Quý Tân, ông đã tiếp nhận được nhiều cuộc điện thoại do dân báo về việc Lê Tiến Phú đánh người.

Liên quan đến các hình ảnh có dấu hiệu vi phạm pháp luật của Trưởng công an xã Phạm Thành Trung được người dân quay lại lúc áp giải anh Phú về trụ sở xã, ông Quang nói: “Nhóm của Phú quay rất nhiều video clip lúc công an xã làm việc. Nhưng nhiều cảnh quay cho thấy các đối tượng này chống đối lực lượng thì đã bị cắt, chỉ có các hình ảnh bất lợi cho công an xã mới được cung cấp rộng rãi”.

Đỗ Vinh

Vietcombank cướp có bài bản

Gần 3g chiều ngày 20 tháng 5 năm 2015, chúng tôi đưa bác Giang đến chi nhánh Vietcombank Thanh Xuân. Một số người quen, bạn bè đến ủng hộ bác, như ông Nguyễn Anh Pháp, Sư cô Thích Đàm Thoa, bà giáo Thảo, anh Trương Dũng, Hà Thanh, Vũ Mạnh Hùng và một số người dân lần đầu chúng tôi gặp.

Những người này chủ động ra chào thăm bác Giang, lên án Vietcombank và động viên bác cố gắng theo đuổi vụ việc. Bác Giang rất xúc động và cám ơn mọi người đã quan tâm.

Đặc biệt, ngay khi chuẩn bị tới ngân hàng, có hai nam phóng viên của báo Pháp luật và Đời sống, tới xin phép phỏng vấn bác Giang. Giấy giới thiệu ghi tên thật là Vũ Công Khoa và Thế Anh. Chúng tôi rất vui vì đây là lần đầu tiên báo chí trong nước dám quan tâm tới việc oan sai của người đấu tranh dân chủ.

Bác Giang đề nghị hai bạn đi cùng đến ngân hàng để mục sở thị. Đến nơi, hai phóng viên trình giấy giới thiệu cho 1 công an mặc sắc phục đang chặn lối vào ngân hàng (bình thường mọi người ra vào tự do) nhưng hai phóng viên không được vào.

Khi chúng tôi vào trong trụ sở, không thấy bóng dáng hai phóng viên đâu nữa.

Đến bây giờ bác Giang vẫn trông đợi hai bạn phóng viên dễ mến này quay lại. Chúng tôi tự hỏi công an, mật vụ đã nói gì với hai phóng viên mà họ lại biến mất như vậy?

Trước đó, buổi sáng, nhiều người trong chúng tôi như anh Trương Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Văn Đài , vợ chồng tôi Nhân – Quyền … đều bị công an chặn ở nhà hoặc đưa giấy mời đến đồn công an làm việc vào đầu giờ chiều.

Lý do công an mời chúng tôi lên làm việc là vì “hành vi tụ tập gây rối an ninh trật tự, ảnh hưởng hoạt động của ngân hàng Vietcombank Thanh Xuân.”

Rõ ràng, kịch bản bỏ tù chúng tôi bằng trò vu khống “Gây rối trật tự công cộng, cản trở giao thông, chống người thi hành công vụ ...” đã được khởi động.

Chào đón chúng tôi là khoảng 100 công an, mật vụ, dân phòng các loại, mặc sắc phục và thường phục. Họ nhìn chúng tôi với thái độ sẵn sang chờ cái nháy mắt của sếp là sẽ ra tay đàn áp hành hung chúng tôi ngay lập tức.

Bầu không khí khủng bố ấy được che chắn bởi một đống ô tô các loại để người đi đường không nhìn thấy chúng tôi. Hơn 20 chiếc ô tô đỗ 1 hàng trên vỉa hè, 1 hàng dưới lòng đường dài đến 50m, che kín hết tất cả hàng quán nhà cửa hai bên chi nhánh ngân hàng, chỉ chừa 3m lối vào ngân hàng.

Chúng tôi quan sát thấy nhiều người dân phàn nàn với những người trong xe ô tô sao lại đỗ dưới lòng đường trước nhà họ như vậy. Một công an mặc sắc phục chạy tới nói gì đó, ngay lập tức gương mặt chủ nhà biến sắc và quay sang nhìn chúng tôi đầy ái ngại.

Mật vụ Ngô Quang Du – PA24 “chỉ đạo trực tiếp tại hiện trường”. Ngô Quang Du giờ đã lên đại tá, chức vụ chắc hoành tráng, vẻ ngoài cũng rất hoành tráng: to lớn, oai phong lẫm liệt, sành điệu từ đầu đến chân, vẻ tự mãn không cần che dấu.

Đã sang năm thứ 9 kể từ khi đại mật vụ này trực tiếp bắt giữ tôi tại Văn phòng Luật sư Thiên Ân, nhốt tôi qua đêm ở đồn công an Bùi Thị Xuân, khám nhà tôi, bắt cóc tôi ngoài đường, đến nhà áp giải tôi đi thẩm vấn và sau đó là bắt tôi tống vào Hỏa lò.

Ấy vậy, hồi ở Hỏa Lò tôi lại mong gặp Du. Vì gặp Du tức là đi hỏi cung, được ra khỏi phòng giam, nhìn ngắm cỏ cây, mây trời, được hít thở không khí bình thường và được ăn cơm bình dân (chứ không phải ăn cơm với rau trộn rác).

Tóm lại là được đi ra ngoài. Nhà tù Việt Nam hoàn toàn không có ý niệm cho tù nhân ra ngoài hít thở không khí. Vì vậy, có những người tù ở trong phòng giam hàng năm trời không 1 bước chân ra ngoài nếu không có công an đến hỏi cung hay luật sư đến gặp. Nhà tù Việt Nam thế kỷ 21 dã man, ác độc hơn cả quần đảo Gu Lắc thời Lê Nin.

Ngô Quang Du nói “Chào chị Nhân.” tay đưa ra bắt. Tôi đáp “Chào anh Du.” rồi thôi. Có vẻ không hài lòng, anh ta nói “Chào nhau thì phải bắt tay chứ, người quen bao năm rồi mới gặp lại.” Giọng mẹ mìn nghe phát gớm! Tôi đáp “Tôi không bắt tay anh vì anh là người đã trực tiếp khám nhà tôi và bắt tôi đi tù .”

Du chuyển ngay sang giọng tuyên giáo rách nát “Ôi chao! Đấy là quá khứ rồi. Mình đều là con người, phải biết khép lại quá khứ hướng tới tương lai.” Tôi trả lời “Anh nói đúng đấy. Nhưng vấn đề là quá khứ của tôi bị oan, và anh lại là người trực tiếp gây oan ức cho tôi (Chẳng phải nhờ những biên bản hỏi cung vu vạ, những nhận xét độc địa, khống lên của anh mà cấp trên của anh quyết định bỏ tù tôi, và đó cũng là thành tích để anh thăng tiến sự nghiệp ?).

Không giải oan mà bảo khép là khép thế nào? Nói chuyện gì kỳ vậy?” Tôi không nghĩ Du cố tình ra chọc tức tôi, mà trí óc của anh ta thực sự bị tê liệt vì đã nghe và nghĩ một chiều suốt cả cuộc đời.

Ông Nguyễn Anh Pháp và tôi đi cùng bác Giang vào làm việc với ngân hàng. Bà giáo Thảo bị ông Viễn – Phó Giám đốc ngân hàng chặn lại với thái độ trịch thượng quê mùa như những lần trước “Chỉ 1 người vào thôi. Được thêm 1 người ... cho thêm 1 người nữa ...”

Quả thực, Vietcombank không coi bác Giang là khách hàng của họ, mà coi là nô lệ, là con mồi của họ. Bác Giang ngán ngẩm nói “Ba người cũng được, bác chẳng còn gì để nói với họ.”

Ông Ngô Quốc Kỳ-Giám đốc Vietcombank giới thiệu phía ngân hàng có bà Thúy Hằng và 1 ông trưởng phòng (tôi không nhớ tên) đồng thời nhanh nhảu giới thiệu luôn về tôi thay cho bác Giang “Chị Nhân đây trước là luật sư nhưng đã bị tước thẻ hành nghề, vậy còn ông là?” (chỉ ông Nguyễn Anh Pháp). Ác ý hay vô duyên, ông Kỳ thích từ nào nhỉ!

Ông Kỳ lấy ra một văn bản, nói “Cháu sẽ đọc và trao tận tay bác Giang.” Văn bản đại ý: Dựa theo công văn số x ngày 22.2.2011 của Bộ Công An, ngân hàng Vietcombank khóa tài khoản của ông Giang, ông Giang có thắc mắc gì thì lên Trực ban Hình sự chuyên trách an ninh Bộ Công an số 7 Nguyễn Đình Chiểu. Ký tên Đào Minh Tuấn-Phó Tổng Giám đốc Vietcombank.

Đọc xong, ông Kỳ hồ hởi định sang đưa luôn cho bác Giang. Bác Giang bảo “Anh cứ để đấy, tôi không nhận cái văn bản này đâu.”
Bác Giang và chúng tôi yêu cầu ông ta:

• Yêu cầu phải có bản sao lệnh của Bộ Công An, phải biết tên người ký cái lệnh đó? Nếu không Vietcombank là kẻ vu khống. Ông Giang và Vietcombank quan hệ trực tiếp với nhau. Khóa tài khoản là việc liên quan trực tiếp tới cả hai bên, nên đương nhiên Vietcombank có nghĩa vụ phải chứng minh với ông Giang một cách đầy đủ, chính xác và kịp thời về sự tác động của bên thứ 3 khiến Vietcombank phải làm như vậy.

• Tại sao khóa tài khoản từ năm 2011 mà ngân hàng không hề thông báo cho chủ tài khoản. Hàng chục lần ông Giang tới hỏi nhưng ngân hàng đều không trả lời, tuyệt đối im lặng, vô luật, coi thường khách hàng. Vietcombank không có đạo đức kinh doanh. Cái văn bản ông Đào Minh Tuấn ký đưa ra hôm nay còn ý nghĩa gì khi 5 năm qua Vietcombank chiếm giữ bất hợp pháp tiền của khách.

• Vietcombank là một doanh nghiệp, thể nhân hay cá nhân khi làm gì cũng phải xem xét việc đó đúng thì mới được làm. Đó là nghĩa vụ của Vietcombank với khách hàng đồng thời là quyền của Vietcombank với Bộ Công an.

• Vietcombank có quyền một cách tự nhiên và đương nhiên, xem xét nội dung lệnh của Bộ Công an có đúng hay không, đúng với quy định pháp luật, đúng với đạo đức xã hội, đúng với sự nghiệp kinh doanh của Vietcombank, để quyết định có tuân thủ hay không.

• Chúng tôi khẳng định lệnh khóa tài khoản của Bộ Công an là hoàn toàn sai trái, nếu không tại sao suốt 5 năm qua, Bộ Công an không khởi tố vụ án, khởi tố bị can với ông Giang. Vietcombank buộc phải biết và tuân thủ những quy định này của pháp luật nhà nước trước tiên chứ không phải theo một cái lệnh vu vơ nào đó của Bộ Công an.

• Chẳng lẽ, Vietcombank không có ai trí óc bình thường để hiểu rằng khóa tài khoản của khách vô thời hạn là phạm pháp và phải hoàn toàn chịu trách nhiệm với khách hàng?

• Không bao giờ có chuyện khách hàng bị ngân hàng chiếm giữ tiền bất hợp pháp, mà lại cun cút đi đến Trực ban Hình sự nào đấy của Bộ Công an để làm việc như một tên tội phạm.

Lần trước nói lên số 3 Nguyễn Thượng Hiền, giờ lại bảo số 7 Nguyễn Đình Chiểu là sao, mai kia phải đến tận đâu (Khéo nó chỉ sang Bắc Kinh thì bỏ mẹ! Tàu khựa là quan thầy còn Việt Cộng chỉ là đám tay sai thôi!).

Bác Giang tuyên bố “Vietcombank dám chiếm giữ tiền của tôi thì bảo công an mang súng vào đây bắt tôi đi. Vietcombank chớ nói những lời xằng bậy xúi giục khách hàng làm điều ngu ngốc. Vietcombank thật quá mất dạy, man trá, ngạo mạn ”.

• Cái sai lớn nhất của Vietcombank là cứ thấy cơ quan công an bảo gì là làm nấy vì cho rằng công an có thẩm quyền sai khiến ngân hàng. Tự Vietcombank đã vứt bỏ quyền tư duy và hành xử độc lập của mình.

Vietcombank lẫn lộn hay cố ý hiểu sai các khái niệm cơ bản. Cái sai này là sai từ trong cách suy nghĩ. Vietcombank có não trạng nô lệ. Từ cái sai căn bản này dẫn đến những sai lầm khác, làm khách hàng khốn khổ và gây hậu quả khôn lường cho Vietcombank.

Ông Kỳ trích dẫn một mớ các quy định về bí mật nhà nước, an ninh quốc gia nhất quyết “Không thể cung cấp bản sao lệnh của Bộ Công an vì đây là tài liệu có đóng dấu “MẬT”. Đây là điều duy nhất ông Kỳ trả lời trong nhiều điều chúng tôi hỏi.

Ngoài ra, ông Kỳ chắc sợ chúng tôi quên, nên nhắc vội “Lần trước bác bảo phải có trích yếu số, ngày tháng lệnh của Bộ Công an thì giờ ngân hàng đã cung cấp đầy đủ cho bác rồi.” (Thế là hết trách nhiệm nhé, mời bác về cho ?!)

Hình như ông Kỳ quên rằng bác Giang đến Vietcombank Thanh Xuân là để rút tiền trong tài khoản của bác. Chúng tôi nói:

• Dù hôm nay Vietcombank có bước tiến rõ rệt là đã dám trích dẫn (thiếu tên người ký) cái lệnh của Bộ Công an, nhưng đó chỉ là một phần nhỏ trong yêu cầu của ông Giang, phần chính là ông đến rút tiền trong tài khoản. Vietcombank đã không thể chứng minh được sự chính đáng của họ trong việc không trả tiền của ông Giang.

• Công an có quyền và chức năng làm một số công việc mật nào đấy, nhưng khi đã ra lệnh khóa tài khoản thì không bao giờ được giấu biệt cái lệnh ấy đối với chủ tài khoản.

Anh có thể bí mật theo dõi một người và tài sản của họ vì cho rằng người đó có liên quan đến một vụ việc phạm pháp nào đó, nhưng đến khi bắt người, thu/tạm thu giữ tài sản của người đó thì bắt buộc phải thông báo cho họ biết và giao quyết định, biên bản cho họ.

Điều này luật quy định rất rõ ràng trong phần về thu thập xử lý vật chứng là hiện vật và tiền bạc, đều phải làm như vậy dù trong bất kỳ vụ án nào, buôn ma túy, buôn vũ khí hay khủng bố, nếu không thông báo chính thức, đầy đủ, chính xác, ngay lập tức cho đương sự thì hành vi thu giữ đó là bất hợp pháp, là ăn cướp. Vietcombank đừng có lôi cái dấu “Mật” vớ vẩn đấy ra mà tự vuốt ve chạy tội cho mình.

• Việc Vietcombank trích dẫn lệnh của Bộ Công an có ý nghĩa chứng minh Bộ Công an có liên quan và phải chịu trách nhiệm về cái lệnh này. Nhưng như vậy hoàn toàn không có nghĩa Vietcombank không phải chịu trách nhiệm gì với khách hàng.

Giống như một đảng cướp, đảng trưởng ra lệnh đi cướp thì đảng trưởng phải chịu trách nhiệm phần đảng trưởng, còn kẻ trực tiếp đi cướp phải chịu trách nhiệm phần của hắn. Đời nào có chuyện cứ phạm pháp rồi nói là làm theo lệnh của ai đó, thì mình không có tội.

• Ông Giang hoàn toàn có thể kiện cả Bộ Công an và Vietcombank cùng lúc hoặc kiện Vietcombank trước và riêng thành 1 vụ, mà chưa cần nhắc gì tới Bộ Công an. Vietcombank tha hồ trích dẫn cái lệnh nào đấy của Bộ Công an với tòa, với công luận để chứng minh mình vô tội, nếu tưởng rằng đó là cách chạy tội cho mình.

Cuối cùng, bà Thúy Hằng lập biên bản buổi làm việc. Họ cố gắng bỏ gần hết ý kiến của chúng tôi, lấy cớ là “cho ngắn gọn”. Cuối cùng, bác Giang cũng đồng ý đưa 3 ý kiến vào biên bản.

Chúng tôi yêu cầu phải ghi rõ câu trả lời của ông Kỳ, là “Không thể cung cấp bản sao lệnh Bộ Công an vì là tài liệu mật”. Ban đầu ông Kỳ đồng ý. Bà Thúy Hằng đang đi in thì ông Kỳ đổi ý, lệnh bà Hằng không ghi câu trả lời đấy của ông ta vào biên bản. Chúng tôi thật sự hơi bất ngờ.

Có lẽ, hơn ai hết ông Kỳ hiểu rằng cái lệnh khóa tài khoản đó của Bộ Công an chả có quái gì là mật. Tất cả chỉ là bạo quyền gây oan trái cho người dân, nên phải bịa ra, phải cố nặn ra, phải vu cho nó là “MẬT”.

Hết cái mật này đến cái mật kia, cái gì cũng ám muội, ngu tối rồi thì tất cả người dân đều thành mật vụ, mọi doanh nghiệp đều thành băng đảng xã hội đen để bóc lột, lừa đảo nhân dân và lừa đảo, cướp giật lẫn nhau.

Một người biết sợ, biết thiếu tự tin khi làm điều sai trái, là người có thể thay đổi và được cứu rỗi!

Chúng tôi đứng dậy đi về.

Sáng ngày 20.5.2015, 3 công an (Ngô Quang Du, 1 nữ tên Yến và 1 người bác Giang không nhớ tên) đến nhà bác Giang. Công an nói họ nhận được đơn của Vietcombank Thanh Xuân tố giác ông Giang gây rối trật tự công cộng làm ảnh hưởng đến việc làm ăn của ngân hàng.

Công an mời bác Giang lên công an quận Thanh Xuân làm việc để điều tra xem bác Giang có tổ chức biểu tình ở Vietcombank Thanh Xuân hay không. Bác Giang nói bác không tổ chức, bạn bè thấy Vietcombank làm sai nên đến ủng hộ bác.

Xin giới thiệu vở kịch 5 màn hoàn hảo: VIETCOMBANK CƯỚP CÓ BÀI BẢN:

• Vietcombank khóa tài khoản, chiếm giữ tiền của khách hàng suốt 5 năm.

• Ngân hàng nói không trả tiền là theo lệnh công an.

• Khách hàng không chấp nhận bị cướp tiền, cùng bạn bè tới ngân hàng đòi.

• Công an xuất hiện, đến tận nhà bắt khách hàng đi làm việc/đi tù (sắp).

• Công an nói bắt người là theo đơn tố giác của ngân hàng.

Trước giờ 90 triệu dân Việt Nam ngu dốt mãi không hiểu kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là cái gì. Hóa ra thật đơn giản:
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA = CƯỚP CÓ BÀI BẢN.

Chế độ độc tài cộng sản vẫn tồn tại ở Việt Nam là nhờ những thứ như Vietcombank, tự động, răm rắp làm theo bạo quyền, bất chấp đúng sai. “Chế độ” là một khái niệm trừu tượng, không thể bỏ tù thằng cơ chế. Nhưng có thể trừng trị, bỏ tù kẻ nào đã lập và duy trì cái chế độ bóc lột tàn ác ấy. Vietcombank nằm trong số đó vì nó là một thực thể.

Vietcombank sẽ phải xin lỗi, trả tiền, bồi thường và thậm chí đi tù vì đã quỵt tiền khách hàng.

Hà Nội, 22.5.2015

Lê thị Công Nhân


"Chúng ta phải ơn Đảng, ơn Nhà nước"



Chủ tịch Hội nhà văn TPHCM – Lê Quang Trang tỏ ra nao núng trước góp ý của hội viên trước Đại hội mà phát pháo đầu tiên là những lời chân thành và sâu sát của nhà thơ Lê Tú Lệ, nên lấy tư cách thay mặt ban thường vụ, để giở giọng bề trên:

“Nhân phê phán Hội Nhà văn thành phố, chị Lê Tú Lệ nêu việc Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 xâm phạm vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế và quyền tài phán của Việt Nam ở biển Đông, yêu cầu mọi người phải biểu thị thái độ và lòng yêu nước theo cách “biểu dương lực lượng” chị nêu ra. Chị bảo Hội Nhà văn không làm như thế là “thụ động yêu nước”, không thể “thể tất”!

Quả thật, đó là một suy nhận định nông nổi, chưa hiểu thấu công việc đối ngoại “vừa hợp tác vừa đấu tranh”, cần sự kiên quyết và tinh tế, theo đúng tinh thần chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Chúng tôi khẳng định Hội Nhà văn hoàn toàn không “bình chân như vại” như chị nhận xét…”.

SGB xin giới thiệu toàn văn “thư khiển trách” báo Văn nghệ TP.HCM.

Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 352 ra ngày 7.5.2015, có đăng bài viết “Hội Nhà văn thành phố cần lắm những tấm lòng” của tác giả Lê Tú Lệ (Hội viên Hội Nhà văn thành phố). Nghĩ rằng “trên tinh thần thẳng thắn, xây dựng”, như lời mở đầu chuyên mục, Ban Thường vụ Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh hoan nghênh và cảm ơn những góp ý của hội viên, với mong muốn có thêm nhiều điều bổ ích cho việc phát triển Hội.

Tuy nhiên, sau khi đọc bài báo, chúng tôi thấy có một số nhận định thiếu khách quan, không thoả đáng, vì vậy xin trao đổi lại vài điều:

1. Nhân phê phán Hội Nhà văn thành phố, chị Lệ nêu việc Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 xâm phạm vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế và quyền tài phán của Việt Nam ở biển Đông, yêu cầu mọi người phải biểu thị thái độ và lòng yêu nước theo cách “biểu dương lực lượng” chị nêu ra. Chị bảo Hội Nhà văn không làm như thế là “thụ động yêu nước”, không thể “thể tất”!

Quả thật, đó là một suy nhận định nông nổi, chưa hiểu thấu công việc đối ngoại “vừa hợp tác vừa đấu tranh”, cần sự kiên quyết và tinh tế, theo đúng tinh thần chỉ đạo của Đảng và Nhà nước.

Chúng tôi khẳng định Hội Nhà văn hoàn toàn không “bình chân như vại” như chị nhận xét mà có nhiều hoạt động tích cực trong sự kiện này, như cử hội viên tham gia các đoàn đi Trường Sa để viết về biển đảo, tổ chức để hội viên viết bài kiên quyết phê phán hành động sai trái của nhà cầm quyền Trung Quốc, trích tiền lương đóng góp vào quỹ “Vì Trường Sa thân yêu”, đồng thời cũng phê phán những hành động cực đoan sai trái mượn cớ “biểu tình yêu nước” để phá hoại tình hữu nghị và chính sách đối ngoại, đầu tư, mà chúng ta đã phải chấn chỉnh, như thực tiễn đã xảy ra trên địa bàn thành phố và một vài tỉnh lân cận.

Chúng tôi cho rằng đây không chỉ là nhận định, quy kết không chính xác, thiếu tôn trọng tổ chức, mà còn là sự xúc phạm tới những hội viên khác không hành động như kiểu chị muốn áp đặt!

2. Về công trình “Một thế kỷ văn học yêu nước, cách mạng TP. Hồ Chí Minh” chị nhận xét rằng “Hội Nhà văn thành phố” chỉ là đơn vị “thêm vào cho phù hợp” (!).

Sự thật là, ngay sau khi xuất hiện ý tưởng, từ bước sơ khởi, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và Chủ tịch Hội Nhà văn đã bàn bạc nhiều lần về nội dung, cấu trúc công trình, tiêu chí tuyển chọn, dự thảo Đề cương, căn cứ theo sở trường của từng đơn vị để phân công nhiệm vụ, rồi mới thống nhất làm tờ trình lãnh đạo thành phố, đại diện lúc đó là đồng chí Nguyễn Thị Quyết Tâm, Trưởng Ban Tuyên giáo ký giao kết.

Điều này không chỉ Hội Nhà văn mà Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc học là Giáo sư Mai Quốc Liên đều biết rất rõ. Cũng cần nói thêm Hội Nhà văn thành phố làm việc này vì tình yêu lớn với thành phố, những suy nghĩ sâu sắc tri ân các thế hệ hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng đời sống tinh thần cho công chúng thành phố, nhân 40 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, chứ hoàn toàn không đơn giản là để “phù hợp về thủ tục” như chị nông cạn nhận định.

Lê Tú Lệ lúc đó ở Phòng văn hoá văn nghệ của Ban Tuyên giáo, là “cầu nối” giữa bên A và bên B, tưởng chị biết khá rành, thế mà không biết vì mục đích gì lại xiên xẹo đi như vậy?

3. Qua lập luận, chị còn cổ vũ cho những nhóm văn chương gọi là “ngoài luồng” và dẫn chứng “riêng trong nhân sự Ban chấp hành nhiệm kỳ trước đã có 02 người tự lập ra nhóm văn chương của mình”.

Đây không phải là lúc bàn đến những nhóm văn học khác, nhưng với tư cách là một tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp thì nhiệm vụ trước hết của Hội nhà văn phải là đoàn kết, xiết chặt đội ngũ, nỗ lực sáng tạo để có được nhiều tác phẩm có giá trị cao, chứ không phải chia nhỏ để phân liệt.

Là người trong tổ chức, chắc chị biết về nguyên tắc, quy chế thành lập hội, cần tự do mà phải chặt chẽ, nếu không sẽ là nguyên cớ hình thành những hội đoàn đi chệch tôn chỉ, chức năng, nảy sinh những kiểu như một vài tổ chức “độc lập” gần đây là rất nguy hại.

4. Chị Lệ có nói “thực lòng không thiết viết ra những dòng (của bài báo) này” và “vẫn còn coi mình là hội viên của Hội”, thì xem ra tình cảm và suy nghĩ với việc Hội lạnh nhạt thờ ơ và không tâm huyết gì.

Từng là người có trách nhiệm với hoạt động Hội (khi ở Phòng văn hoá văn nghệ của Ban Tuyên giáo Thành uỷ), sao trước đây chị không góp ý, báo cáo lên cấp có thẩm quyền chỉ đạo uốn nắn kịp thời, nay lại công bố một bài báo như vậy.

Chị Lệ có ý nhắc Hội nhà văn “cần lắm những tấm lòng”, điều đó chỉ đúng một phần, vì ở đây ngoài “tấm lòng” còn cần trí tuệ, ý thức chính trị, tính trung thực khoa học và sự nhạy cảm của người cầm bút nữa.

5. Cũng như nhiều hội chuyên ngành khác, Hội nhà văn thành phố đang trong quá trình tiến đến Đại hội lần thứ VII. Ban chấp hành Hội nhà văn khoá VI đã có các văn bản Báo cáo nhiệm kỳ vừa qua trình Đại hội. Những ưu điểm và khuyết điểm đều được soi rọi bởi cách nhìn nghiêm khắc, trung thực, không né tránh sự thật.

Chúng tôi cũng muốn nói thêm, người viết có thể sai, nhưng người biên tập, người chịu trách nhiệm cao nhất của tờ báo thì phải thận trọng, kỹ lưỡng.

Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh là cơ quan ngôn luận của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật thành phố mà Hội Nhà văn thành phố là một thành viên, cùng chung một Đảng đoàn, sát tầng nhau trong một số nhà, chẳng lẽ không nắm được tình hình, lại cho đăng một bài báo như thế, mà trong thời điểm nhạy cảm sắp bước vào Đại hội, chắc chắn sẽ gây rắc rối phức tạp không đáng có.

Rất mong Ban biên tập và các Cơ quan lãnh đạo xem lại và chấn chỉnh góp phần cho Hội nhà văn làm tốt nhiệm vụ của mình.

T/M BAN THƯỜNG VỤ
HỘI NHÀ VĂN TP. HỒ CHÍ MINH
Chủ tịch Hội
LÊ QUANG TRANG