Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồ Duy Hải. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồ Duy Hải. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

Công lý là cán cân lệch?

SGB: Chia sẻ với Sài Gòn Báo về vụ án bưu cục Cầu Voi, tỉnh Long An, một độc giả ở Gò Công, cho rằng vì sao quá ít những bài báo nói về nỗi đau mất mát của hai gia đình nạn nhân?

Kêu oan cho Hồ Duy Hải, và cũng cần kêu oan cho cái chết tức tưởi của hai cô gái ở bưu cục Cầu Voi. Công lý không thể là cán cân lệch.

***

Giọt nước mắt lăn trên gương đen sạm của người đàn ông, đục ngầu vỡ tan khi trượt dài xuống má. Ông khóc và uất nghẹn vì oan khuất khi nhiều năm qua vẫn chưa nguôi nỗi thương nhớ, khi đứa con gái mình bị kẻ thủ ác sát hại một cách dã man.

Nỗi lòng người cha chỉ mong muốn kẻ thủ ác thực sự phải đền tội, nhưng gần 8 năm qua đều ông trong chờ vô vọng vì luật phát vẫn luôn ầu ơ ví dầu.

Lại có quá nhiều nghi phạm được cơ quan điều tra bỏ ngoài hồ sơ. Là người cha mất con, ông hiểu nỗi lòng của người mẹ đang kêu oan cho đứa con trai. Ông luôn mong công lý hãy mang đến sự thật công bằng cho người mẹ đó, và cho cả hai nạn nhân xấu số.

Người nông dân như như ông chỉ tin và phó mặt chuyện mình cho pháp luật, tin nhà nước sẽ xử đúng người đúng tội. Con gái ông cũng sẽ an lòng ra đi.

Thửa ruộng, khuôn vườn trơ gầy những gốc cây xơ xác, những vạt bụi bám trên những lá cây trông cảnh vật thật điều tàn.

Thương cho cô bé chết thảm bởi lưỡi dao của hung thủ nhưng vẫn còn những tiếng nhơ, là dân không đàng hoàng, cặp xách nhiều thằng đàn ông, sống bầy đàn mà ai đó đã tung tin…

Khi đứng trong căn nhà rộng trước bàn thờ em, một cảm giác lạnh lẽo xót xa. Một cô bé thì đúng hơn, xinh xắn và tương lai sáng sủa. Gia đình nông dân hiền lành, ba mẹ em đau lòng bởi sự mất mát đứa con. Họ có lẽ còn đau lòng nhiều lần hơn khi nghe những điều tiếng về em.

Mỗi ngày ra vào trên con đường về nhà hình ảnh đứa con luôn đi bên cạnh và những tiếng xầm xì của bà con lối xóm, những câu nói đồng cảm không ít và những tiếng bĩu môi của thiên hạ về những lời đồn. Đau lại càng đau.

Tin vào pháp luật, tin vào sự công bằng và luật nhân quả vì ông tự nhủ cái ác phải bị trừng trị.

Người mẹ với đôi mắt đầy ngấn nước khi đứng trước bàn thờ con gái nức nở. Dù câu chuyện đã qua rất lâu, nhưng chạm vào nó vẫn như mới vừa xảy ra ngay hôm qua. Người cha nói:
“Lúc đó hay tin tui lên đến thấy người ta vây xung quanh, tui ngã cái rật ngoài đường, nếu có xe trờ tới cán thì tui chết luôn...”.

Nước mắt lại chảy xuống gương mặt khắc khổ và mái tóc bạc trắng của người đàn ông 55 tuổi. Thật chạnh lòng.

Người mẹ cầm ống tay quẹt nước mắt giọng nói nhỏ đi:

“Chuyện đã qua lâu rồi, gia đình không muốn nhắc tới vì mỗi khi nhắc đến nỗi đau lại trở về, giờ chỉ làm và lo cho mấy em của nó…”.

Ánh mắt của họ mang đầy nỗi xót xa. Nỗi đau ấy không có gì bù đắp được, mái tóc trắng xóa của người cha, sự phiền não của người mẹ vẫn ám ảnh tôi trong buổi chiều muộn.

Có những câu chuyện về gia đình những nạn nhân bị giết, những người cha, người mẹ khi gặp phải những trường hợp trên họ vô cùng đau đớn trước mất mát và không biết cầu cứu những ai.



Họ chỉ phó mặc cho số phận. Đâu đó cần lắm một bàn tay chìa ra chia sẻ…

Phạm Kiều


Vụ án Hồ Duy Hải

Phần 2: Gia đình đang chờ án tử hình

Người đón chúng tôi là em gái Hồ Duy Hải. Trong clip, cô em gái này đã nói về một nhân vật có tên Nghị…

Nhà Hải khá khang trang, bên ngoài là một cửa hàng nhưng theo lời người dì ruột (chị của má Hải) thì đã đóng cửa từ ngày chuyện dữ xảy ra.

Mấy phóng viên trẻ của Sài Gòn Báo chuẩn bị, máy quay, máy ghi âm.. phỏng vấn mẹ và em gái Hồ Duy Hải. Tôi ngồi ngoài hiên chuyện trò cùng hai người dì của Hải.

Nhà toàn là phụ nữ, suốt 7 năm trời đìu ríu nhau đi kêu oan khắp mọi cửa. Tuyệt vọng khi thấy mọi cố gắng của mình chỉ rơi vào im lặng. Gia đình hoá ra lại là “gốc bự” (theo cách nói Nam Bộ). Ông nội của Hải, 50 năm tuổi đảng (CS), bà cố ngoại là bà mẹ Việt Nam anh hùng. Huân chương, huy chương... đủ cả. Người dì chỉ tay lên bức tường trống trơn:

- Hồi xưa nhà tôi treo ảnh bác Hồ, bằng khen, giấy khen... đầy cả bức tường này. Giờ bỏ hết rồi. Cái thứ mình theo, mình tôn thờ hoá ra là đồ dỏm.

Khi biết tôi là người Hà Nội, chị vui hẳn lên:

- Hồi đầu, chị em tôi Hai Lúa lắm, ra ngoài đó cứ lơ ngơ may mà được nhiều người giúp.

Rồi chị kể cho tôi tên mấy người, hoá ra đều là những người mà tôi biết.

Khi Hải bị bắt, cả nhà gần như đổ sụp, hoang mang. Không hiểu họ lấy đâu ra sức mạnh và nghị lực suốt nhiều năm ròng rã như vậy khi chỉ dựa vào một niềm tin: Tin rằng con mình vô tội.
Người dì nói:

- Nếu thằng Hải có tội, gia đình tôi xin sẽ tự tay trừng trị nó. Nhưng nếu nó bị oan chúng tôi sẽ liều mạng với kẻ nào giết nó.

Chị nói thêm:

- Gia đình tôi chịu ơn nhiều người, nhất là cộng đồng trên mạng xã hội, cả báo chí nữa. Họ lên tiếng làm nhà cầm quyền cũng phải xem lại, nhất là động viên an ủi làm chúng tôi không còn thấy lẻ loi.

Đi mới biết anh ạ, khắp nước mình đâu cũng oan khuất ngút trời. Tôi ân hận, nuối tiếc vì cha mẹ, ông bà mình từng đi theo con đường lầm lạc. Chúng tôi đã mở mắt ra rồi…

Tôi nhớ có lần một người từng “lầm lạc” nói:

- Dân mình tốt quá anh ạ, hy sinh tất cả. Đáng lẽ nhà cầm quyền phải cám ơn dân, phải thấy mình may mắn khi một chính phủ có được những người dân như thế.

Ngược lại họ lại coi dân như cỏ rác, như bầy cừu để họ bóc lột, đè nén. Nhưng rồi sẽ có ngày họ phải trả giá, kẻ dùng kiếm sẽ chết vì kiếm.

Và những cái chết... bí ẩn

Một người bạn tôi, một chuyên gia trong lĩnh vực hình sự nói:
- Các vụ trọng án như vậy, tuần lễ đầu tiên thậm chí ngay ngày đầu tiên là rất quan trọng. Hiện trường và tang chứng, vật chứng đã bị phá huỷ bởi một lũ vô tổ chức, vô trách nhiệm, vô khả năng anh ạ.

Với chế độ công an, tư pháp hiện nay sẽ còn nhiều án oan.

Không những hiện trường, tang chứng, vật chứng bị phá huỷ mà cả những người liên quan cũng đã... chết.

Công an xã Huỳnh Văn Minh, người đã đốt con dao và cái thớt vì “không liên quan đến vụ án” sau đó nhờ người đi mua lại, chết năm 2009 tại trụ sở xã trong khi trực đêm vì... đột tử.

Công an xã Nguyễn Thanh Hải, với vai trò nhân chứng (người kể về vụ án mạng cho Hồ Duy Hải nghe), chết vì tai nạn giao thông khi trên đường đến UBND xã năm 2010.

Thượng tá Tiến, phòng cảnh sát điều tra công an tỉnh Long An, người gọi điện yêu cầu gia đình Hồ Duy Hải phải ký hợp đồng bào chữa với luật sư Võ Thành Quyết. Khi hợp đồng được ký xong thì việc khám xét nhà Hồ Duy Hải mới chấm dứt.

Nhưng sau khi gia đình phát hiện luật sư Quyết từng là công an, từng là “sếp” của thượng tá Tiến, họ đã huỷ hợp đồng này và chọn luật sư khác.Ông Tiến cũng đã... chết.

Kiểm sát viên cao cấp thuộc Viện Kiểm sát phúc thẩm, Viện Kiểm Sát tối cao tại TP.HCM Trần Ngọc Lẫm, người giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm xử Hồ Duy Hải, đã có lời nhắn gây chấn động:

“Đừng trách tôi đứng ra tuyên án tử hình Hồ Duy Hải... Hãy trách những người xúi tôi xử”.
Ông Trần Ngọc Lẫm, cũng... đột tử. Ông là người được đồng nghiệp nhận xét: “Giỏi nghiệp vụ và sống mực thước”.

Khi tôi ngỏ ý nhờ một người bạn đang làm việc “nhà nước” ở Long An, nhờ anh dẫn đến nhà hai người được nhờ đi mua con dao và cái thớt thay thế cho tang vật đã bị huỷ, anh nói:

- Vô ích thôi anh, họ không gặp đâu, vì sao thì tôi chắc anh đoán được.

Tôi nói với anh về những đồn đại rằng đằng sau vụ án là một nhân vật có thế lực ghê gớm, anh phẩy tay:

- Thôi uống đi ông.

Tôi nhớ lời người dì của Hồ Duy Hải kể:

- Khi chúng tôi đi đưa đơn kêu oan ở Hà Nội, người ta nói không nhận trực tiếp, phải gửi qua bưu điện, thế là tôi đến khắp các Bưu cục gần chỗ mấy ông lớn ở để gửi.

Một lần đến Bưu cục Quan Thánh, một bà hàng nước nói : “Chị đừng gửi ở đây, chúng tôi thấy chúng nó lại vứt bưu kiện ra xe rác đấy, toàn đơn kiện thôi”.

Ông bà mình thường dặn con cháu: Trời cao có mắt…



Ngô Nhật Đăng



Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2015

Vụ án Hồ Duy Hải

Phần 1: Nỗi đau đứa con bị sát hại

Theo địa chỉ ghi trên “Giấy báo tử” và hướng dẫn của một người quen, chúng tôi tìm tới gia đình nạn nhân trong vụ án ở Bưu cục Cầu Voi - Thủ Thừa - Long An.

Địa chỉ ghi là khu phố, nhưng thật ra nó nằm sâu trong khu ruộng cách quốc lộ đến 3 cây số. Chúng tôi phải hỏi thăm nhiều mới tìm được đến nơi.

Vùng quê yên bình bị xáo động vì một việc dã man ngoài sức tưởng tượng của người dân, nên dù đã gần 8 năm nhưng nhiều người vẫn còn chưa quên.

Một ông già chỉ đường cho tôi:

- Chú đi khoảng 1 cây số, tới ngã ba, quẹo phải, đếm từ đó đúng 6 căn là nhà đó, có hàng cau kiểng trước mặt, Sáu M. tội nghiệp lắm...
Ngôi nhà xây gạch, nhưng không tô trát, bức tường đã loang lổ rêu xanh, chứng tỏ chủ nhân không còn muốn hoàn thiện nó. Có chừng 7, 8 người đang ngồi nhặt rau ở hàng hiên, nhưng cửa nhà vẫn đóng kín.

Anh Sáu M. chủ nhà rất ngạc nhiên khi thấy chúng tôi bước vào, anh khoác vội cái áo, mời chúng tôi ngồi xuống bộ bàn ghế đá trước nhà, rồi hỏi với vẻ đề phòng:

- Anh làm ở đâu, sao lại đến nhà tôi, có chuyện gì?

Khi nghe tôi trình bày muốn tới chỉ để thắp nén nhang cho con gái anh, chia sẻ sự mất mát của người cha, thì nét mặt anh dịu xuống, anh gọi:

- Em ơi, mở cửa cho hai anh chị vô thắp nhang cho con mình.

Căn nhà tuềnh toàng không có đồ đạc gì, ngoài bàn thờ ông bà kê chính giữa và một ban thờ bên cạnh có di ảnh người con gái, nét mặt khá xinh xắn.

Người mẹ đưa cho tôi ba nén nhang, tôi châm lửa cắm vào bát hương, thì thầm vài lời với cô bé hơn con gái tôi có 1 tuổi mà sớm lìa đời, bị sát hại một cách dã man.

Người mẹ cầm cái phong bì tôi đặt lên, nhét lại vào túi áo tôi, nghẹn ngào:

- Chú đừng làm thế, chú đến chia sẻ vơi tôi là tôi cám ơn lắm rồi.
Chị khóc:

- Gần 8 năm rồi mà tôi vẫn chưa nguôi. Con ơi....

Người cha cũng trạc tuổi tôi, nét mặt thanh thoát, khá đẹp nhưng tiều tuỵ, tóc bạc trắng. Anh mời tôi hút thuốc, nói chuyện về công việc nhà nông vất vả, anh phải bươn chải ra sao để nuôi gia đình, một vợ bốn con, anh cười buồn:

- Bây giờ cái gì cũng cần tiền, học hành cũng vậy, mình phải mua chữ cho con đó anh. Chắc anh cũng trạc tuổi tôi, ngày xưa anh ở ngoài Bắc thế nào tôi không biết, chứ chúng tôi trong này đi học buổi trưa còn được suất bánh mỳ và sữa.

Đột nhiên anh bật khóc:

- Đôi khi tôi muốn huỷ mình, để huỷ luôn nỗi đau và niềm nhớ. Nhưng còn ba đứa em nó anh ơi. Một đứa tật nguyền, hai đứa nhỏ còn đang đi học.

Tôi im lặng, một lát sau dịu lại anh kể cho tôi nghe về cái ngày kinh khủng ấy, cái cảm giác mất đứa con đầu lòng mà anh cưng nhất, suốt bao năm qua anh phải gồng mình để sống: “Vẫn phải sống mà anh, nhưng mất cái vô giá của mình, sống tiếp nặng nề lắm”.

Người mẹ định kể về con mình, nhưng mới nhắc đến tên con chị đã nghẹn ngào, nước mắt ròng ròng, không nói lên lời.

Khi tôi hỏi anh nghĩ gì về việc Hồ Duy Hải, người bị coi là thủ phạm, đã bị tuyên án, nhưng có dấu hiệu oan sai. Anh nói không nghĩ gì, mọi việc để pháp luật, anh chỉ mong đúng kẻ thủ phạm phải đền tội để con và cháu anh đỡ oan ức.

Chúng tôi xin phép ra về, lòng nặng trĩu. Anh chị tiễn ra tận cổng, chỉ cho tôi con đường tắt về Tân An, hẹn tôi ngày quay lại. Tôi không dám hứa vì không chắc mình đủ can đảm quay lại.

Cái xã hội quái gở gì vậy? Cái ác vô luân, man rợ hoành hành, nạn nhân lại là những người nông dân chân chất...

Và chúng tôi quyết định tìm đến nhà của Hồ Duy Hải...

Ngô Nhật Đăng

+ Ảnh: Con đường vào nhà anh Sáu M.

(Đón đọc bài 2, ghi nhận lời của em gái Hồ Duy Hải về người thanh niên bí ẩn tên NTN là ai)


Thứ Năm, 16 tháng 4, 2015

Đề nghị cụ Tổng hãy trả lời

"Thỉnh cầu ông tổng bí thư, bằng quyền hạn của mình, yêu cầu ông Trương Hòa Bình trên cương vị là Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, phải có giải thích vì sao trước nhiều ý kiến yêu cầu kháng nghị, ông Bình đã từ chối?". 

Người mẹ của Hồ Duy Hải đã yêu cầu như vậy trước ống kính của Sài Gòn Báo, vào cuối giờ sáng hôm nay 16-4, tại Thủ Thừa, Long An.


Thứ Tư, 15 tháng 4, 2015

Vụ án Hồ Duy Hải: "tình tiết mới" giúp truy lùng thủ phạm

Khác với vụ án ông Nguyễn Thanh Chấn phải mất đến 8 năm mới biết đến nguồn tin về kẻ thủ ác, ở vụ án bưu cục Cầu Voi, cơ quan điều tra đã khoanh vùng được “những nghi phạm bậc nhất” ngay từ ban đầu.

Tuy nhiên lần lượt các nhân vật này “biến mất”, và Hồ Duy Hải xuất hiện…

Những thông tin "cung cấp" cho báo chí 
Phóng viên mảng nội chính thời điểm ấy, khi lấy tin vụ án bưu cục Cầu Voi, đều được cung cấp kèm “than vãn”: vụ án thuộc dạng cực khó khi xảy ra vào đêm tối, không một dấu vết của kẻ thủ ác, không có bất kỳ một nhân chứng nào.

Do đó “nhiều điều tra viên và hàng trăm trinh sát giàu kinh nghiệm” được triển khai, truy tìm manh mối phá án.

Theo thông tin được cung cấp cho báo chí (có thể tìm lại từ thư viện của báo Long An, và phòng tư liệu của báo Long An), thì manh mối đầu tiên, được một số người dân sống gần hiện trường cung cấp, là có bốn thanh niên thường xuyên đến chơi với hai thiếu nữ vào các buổi tối, có thể những người này đang theo đuổi, tán tỉnh những nữ nhân viên xinh đẹp.

Điều tra nhanh, công an được biết trong số bốn thanh niên này, có 3 người quê ở Vĩnh Long, người còn lại thì nhà ngay tại xã Nhị Thành.

Ngoài nghi phạm người tại địa phương, sau ít giờ điều tra được xác định không liên quan, đánh giá các thanh niên còn lại ít nhiều gì cũng có liên quan đến vụ án, hoặc cũng có thể cung cấp manh mối gì đó cần thiết điều tra phá án.

Bằng biện pháp kiểm tra đăng ký tạm trú, tạm vắng tại địa phương, 3 thanh niên quê Vĩnh Long được xác định tên là Nguyễn Văn Sơn (SN 1980); Nguyễn Tuấn Anh (SN 1981); Trần Văn Chiến (SN 1980) cùng là thợ bạc đến tạm trú và làm thuê cho một tiệm vàng tại địa phương.

Được triệu tập đến cơ quan điều tra làm việc, cả 3 thanh niên đều cho biết có mối quan hệ quen biết với cả hai nạn nhân, đều đang theo đuổi thiếu nữ Hồng nhưng chưa ai được cô gái chấp nhận.
Đêm xảy ra vụ án, cả 3 đều đến chơi và trò chuyện với Hồng, rồi cùng đi về vào lúc hơn 19g.

Để chứng minh mình ngoại phạm, 3 anh thợ bạc cho biết lúc về đến nhà trọ có tổ chức uống rượu với mấy người cùng khu nhà trọ, có bà chủ nhà trọ và một số người cùng tham gia sòng nhậu làm chứng.
Tổ chức đối chứng, cảnh sát thấy lời khai của họ đều phù hợp, như vậy khó có khả năng họ là hung thủ. Trong lời khai của 3 thanh niên này, có một chi tiết khiến các trinh sát chú ý.

Vì thiếu nữ tên Hồng có nhan sắc khá mặn mà nên cô là “niềm mơ ước” của nhiều chàng trai, trong đó có Nguyễn Văn Nghị (SN 1978, ngụ huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang).

Giai đoạn này, báo chí được cung cấp thông tin rằng tài liệu của Công an huyện Thủ Thừa chuyển về ngay sau khi được yêu cầu xác minh, đã khiến các điều tra viên giật mình “Có thể hung thủ đây rồi”: Nghị từng là một đối tượng nghiện ma túy.

Lấy lời khai của một số người dân ở gần hiện trường vụ án, cảnh sát được biết Nghị thường đi xe máy đến bưu điện chơi, và có một mối quan hệ khá lằng nhằng.

Thì ra trước đây nạn nhân Hồng từng là bạn gái của một anh thợ bạc trong nhóm 3 người nêu trên, từng định tiến đến hôn nhân nhưng gia đình của hai bên đều không đồng ý với lý do không “môn đăng hổ đối”, nhà lại xa nhau.

Nghị lúc ấy lại là bạn của anh thợ bạc này, tình cờ gặp thì cũng mến Hồng. Thiếu nữ thấy “người mới” đẹp trai, ga lăng và gia cảnh cũng khá giả hơn anh thợ bạc nên hai người đã có tình ý.

Vấn đề là lúc ấy bất chấp hai gia đình không đồng ý, anh thợ bạc vẫn đeo đuổi cô gái, đã có một vài lần anh và Nghị cãi nhau trước cổng bưu điện, tình bạn bị sứt mẻ. Một số nhân chứng cho biết Nghị đã nhiều lần yêu cầu Hồng không được trò chuyện với anh thợ bạc nữa.

Nhưng anh thợ bạc ấy là ai trong 3 người, thì không thấy nêu tên.
Cũng tin từ cơ quan điều tra, thêm một tình tiết xác định Nghị có thể liên quan đến vụ án, là vào đêm xảy ra án mạng, có người dân thấy thanh niên này điều khiển xe máy đến gặp hai thiếu nữ.
“Anh ta lúc đó mặc quần jean, có mặc áo gió bên ngoài màu xám” - nhân chứng khẳng định.

Ngay trong ngày, ban chuyên án cử trinh sát đến nơi Nghị ở trọ để triệu tập về cơ quan điều tra làm việc nhưng đối tượng không có tại đó. Tìm đến những nơi nghi phạm thường lui tới, không ai thấy bóng dáng Nghị đâu.

Để làm sáng tỏ vụ án, các trinh sát tìm sang tận huyện Cai Lậy “đón lõng” nghi phạm tại nhà mẹ đẻ, đến khoảng nửa đêm thấy Nghị xuất hiện. Ngay lập tức thanh niên này được áp giải về cơ quan điều tra để lấy lời khai.

Nghị khai nhận đúng là đêm đó có đến gặp Hồng, nhưng do có gặp nhóm thợ bạc “bạn cũ” nên khi những thanh niên kia ra về thì mình cũng về theo.

Và rồi Nghị... biến mất
Chứng minh mình vô can, Nghị đưa ra nhân chứng xác định vào thời gian từ 20g10 tối 13-1, Nghị đã cùng bạn uống nước tại một quán cà phê tại thị trấn Cầu Voi.

Chủ quán cà phê cũng xác nhận điều này vì tối đó có một sự việc rất đặc biệt, lúc uống cà phê thì giữa Nghị và một thanh niên khác đã xảy ra tranh cãi về việc “nhìn đểu" khiến chủ quán phải đến can ngăn.

Tuy nhiên thì sau đó báo chí nhận được thông tin từ cơ quan điều tra rằng “qua quá trình làm việc, so sánh các bằng chứng, cảnh sát nhận thấy có thể thanh niên này không liên quan gì đến vụ án”.
Nghi phạm tên Nghị lập tức… biến mất. Toàn bộ câu chuyện về Nghị cũng… biến mất khỏi hồ sơ vụ án. Người thanh niên tên Nguyễn Văn Nghị giờ đây chỉ được nhắc đến qua… các bài báo đưa tin về vụ án bưu cục Cầu Voi.

Ông chủ quán cà phê làm nhân chứng thời gian là ai? Có thật là tối hôm đó xảy ra tranh cãi, mà nếu không có ông can gián thì ẩu đả xảy ra? Người thanh niên “nhìn đểu” ấy có thật hay không?

Không chỉ có Nghị. Ngay sau khi vụ án xảy ra, cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập lấy lời khai của nhiều người bị tình nghi. Thế nhưng, không hiểu vì lý do gì, tất cả lời khai của những người này đều không còn trong hồ sơ vụ án.

Vậy những tài liệu, bút lục này hiện đang ở đâu? Cơ quan điều tra có lấy dấu vân tay của những người được triệu tập này để đối chiếu với dấu vân tay thu được tại hiện trường hay không? Có người nào “trùng” hay không?

Hàng loạt câu hỏi trên, nếu cất công rà soát lại và đi tìm xem những nhân vật ấy suốt thời gian qua ra sao (tương tự như vụ án ông Nguyễn Thanh Chấn), khả năng sẽ có những “tình tiết mới” đắt giá cho yêu cầu kháng nghị tái thẩm vụ án bưu cục Cầu Voi.

Vì sao lại "xoáy" vào Nguyễn Văn Nghị?

Trong số các nghi phạm ban đầu của vụ án, thì mãi về sau, khi Nguyễn Văn Nghị… biến mất, dư luận địa phương mới râm ran rằng Nghị là cháu của một quan chức rất to trong bộ máy nhà nước. Nghị còn có người dượng cũng chức vụ rất to…

Báo chí dừng đưa tin về Nghị cũng vì ngại đồn đoán gia thế của Nghị.

Đến nay, công an lẫn văn phòng chủ tịch Nước cũng chưa đưa ra thông tin chính thức nào về nhân vật Nguyễn Văn Nghị, “có phải gia thế như đồn đoán nên vụ án bị sai lệch”?.

---------------------------------------------------------------------------------
Một lưu ý. "Tình tiết mới" khác có khả năng làm thay đổi toàn bộ sự thật của "nhân chứng thời gian", đó là hai nạn nhân có thật sự tử vong trong khung thời gian như hồ sơ của cơ quan điều tra?

Sài Gòn Báo sẽ có bài viết tiếp theo về vấn đề "pháp y" trong vụ án bưu cục Cầu Voi.

Đỗ Vinh


Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2015

Vụ án Hồ Duy Hải nhìn từ án lệ Huỳnh Văn Nén

Trong hội thảo về án lệ do Tòa án nhân dân (TAND) Tối cao tổ chức tại Sài Gòn vào cuối năm 2014, ông Ngô Cường (Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế TAND Tối cao) nói:

“Không phải bây giờ chúng ta mới biết đến án lệ mà từ thời nhà Nguyễn đã có. Đến năm 1921, khi thực dân Pháp đô hộ nước ta, án lệ cũng theo chân họ vào và xuất hiện tại các phiên xử của tòa án Việt Nam.

Đến năm 1965, án lệ không được dùng nữa. Cho đến những năm 2000 thì TAND Tối cao bắt đầu nghiên cứu về án lệ”.

Theo ông Cường, đến nay án lệ đã được ghi nhận trong các nghị quyết số 08 và 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp.

“Việc cần thiết phải áp dụng án lệ là không phải bàn cãi vì đó là xu thế chung của thế giới. Ngoài ra, dù có ban hành bao nhiêu bộ luật đi nữa thì cũng không thể phủ khắp được diễn biến sinh động của xã hội. Hơn nữa, một điều luật có thể hiểu nhiều cách khác nhau.

Án lệ giúp chúng ta hiểu thống nhất và dự đoán trước được kết quả xét xử trong vụ tương tự, đồng thời hạn chế được việc kháng cáo, khiếu nại giám đốc thẩm của đương sự” - ông Cường khẳng định.

Như vậy, nhìn từ “án lệ Huỳnh Văn Nén”, cho thấy Hồ Duy Hải có dấu hiệu bị kết án oan sai.


Vụ án không vật chứng

Đêm 23/4/1998, bà Lê Thị Bông ở thôn 2 (xã Tân Minh, nay là thị trấn Tân Minh, Hàm Tân, Bình Thuận) bị xiết cổ chết.

Ngày 17/5/1998, cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Bình Thuận bắt tạm giam Huỳnh Văn Nén (sinh năm 1962, quê Cà Mau, trú tại thôn 2, Tân Minh, Hàm Tân, Bình Thuận) vì nghi ông Nén là thủ phạm giết bà Bông.

Trong tù, Huỳnh Văn Nén khai nhận tội giết bà Bông để cướp chiếc nhẫn 1 chỉ vàng.

Trong kháng nghị, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) đề nghị Tòa Hình sự TAND Tối cao xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, hủy phần tội danh và hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm về tội “Giết người”, “Cướp tài sản” đối với Huỳnh Văn Nén; giao hồ sơ về cấp sơ thẩm để điều tra lại theo thủ tục chung.

Theo VKSNDTC, đây là vụ án không quả tang; quá trình điều tra, xét xử về tội “Giết người” và “Cướp tài sản” đã có nhiều thiếu sót, vi phạm. Cụ thể, trong việc thu thập vật chứng, khám nghiệm hiện trường, cơ quan điều tra không thu giữ được số vật chứng như: sợi dây dù Nén khai dùng để siết cổ nạn nhân (bà Lê Thị Bông), ổ khóa nhà bà Bông và 1 chỉ vàng 24K của bà Bông. Các sợi dây thu giữ trong quá trình điều tra không liên quan đến sợi dây Nén dùng để siết cổ bà Bông.

VKSND Tối cao nhận thấy các lời khai nhận tội ban đầu của Nén không phù hợp với hiện trường và biên bản khám nghiệm tử thi. Các lời khai nhận tội sau mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với lời khai của chị Phạm Thị Hồng (con bà Bông) và một số nhân chứng.

Điển hình là cách thức thực hiện hành vi giết bà Bông. Ban đầu, Nén khai dùng tay bóp cổ, lời khai sau Nén nói vòng dây từ phía sau siết cổ, có lời khai lại bảo vòng dây qua cổ bà Bông rồi giật mạnh làm bà ngã ngửa, sau đó mới dùng dây siết.

Vị trí giết bà Bông cũng không đồng nhất khi nhiều lời khai Nén nói giết bà ở nhà dưới nhưng lời khai ban đầu lại nói ở nhà trên. Bị cáo khai sau khi gây án không tắt đèn nhà bà Bông nhưng chị Hồng khai khi về nhà thấy đèn tắt nên mới bật. Bị cáo khai không lục lọi đồ vật trong nhà bà Bông nhưng khi chị Hồng về thì thấy trong nhà có sự xáo trộn ở một số vị trí.

Về diễn biến hành vi phạm tội, bản án sơ thẩm mô tả khi Nén vào bếp thì thấy bà Bông đang ngủ trên giường nhà dưới, trong khi cáo trạng thể hiện lúc Nén vào nhà thì bà Bông đang giũ giường ngủ...

Vụ án dàn dựng vật chứng

Trong vụ án Hồ Duy Hải, các tang vật đều được cơ quan công an nhờ người mua ở chợ về, với lý do: thất lạc tang vật.

Tại các bản án sơ, phúc thẩm, cáo trạng và kết luận điều tra quy kết Hải dùng con dao Thái Lan dài 28cm, ngang 3cm có tại bưu điện Cầu Voi sát hại 2 nạn nhân. Nhưng công tác khám nghiệm hiện trường dù đầy đủ thành phần, đông người chứng kiến lại xác nhận không hề có con dao nào.

Hôm sau khi dọn dẹp hiện trường, nhóm dân phòng địa phương đã tìm thấy 1 con dao mới tại bưu điện. Con dao này chỉ được nhóm dân phòng nhìn thấy; cho rằng không liên quan đến vụ án nên họ đã đem đốt con dao cùng với những đồ vật khác tại hiện trường.

Sau đó khá lâu cơ quan điều tra yêu cầu ông Nguyễn Văn Thu (hành nghề xe ôm, là tổ trưởng tổ dân phòng ấp 7, xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa) ra chợ Thủ Thừa mua 1 con dao có đặc điểm giống với con dao mà ông và 1 số người đã đốt.

Con dao này được ông Thu giao nộp cho điều tra viên công an tỉnh Long An và cơ quan này “mặc nhiên” xem đây là hung khí mà Hồ Duy Hải đã dùng để sát hại 2 nạn nhân.

Một vật chứng quan trọng khác là cái thớt gỗ; cơ quan tố tụng cáo buộc Hải dùng đập đầu nạn nhân Hồng. Khi khám nghiệm hiện trường công an ghi nhận, trên đầu nạn nhân có thớt gỗ nhưng không thu giữ do không có dấu vết liên quan đến vụ án.

Thực tế trong vòng 3 tháng sau khi bị bắt (từ tháng 3 đến đầu tháng 6/2008) Hải không hề khai dùng thớt gỗ đánh vào đầu nạn nhân Hồng; chỉ tới biên bản hỏi cung ngày 11/6/2008 Hải mới khai báo về hung khí là cái thớt gỗ.

Ngày 24/6/2008, cơ quan điều tra yêu cầu chị Lê Thị Thu Hiếu (là bạn của 2 nạn nhân Hồng và Vân, thường xuyên có mặt tại bưu điện Cầu Voi) đi mua một cái thớt về, rồi cho rằng Hải đã dùng một cái thớt như vậy để tấn công nạn nhân Hồng, khi gây án.

Qua bản ảnh, tư thế khi chết của nạn nhân Hồng ở trạng thái như sau: Nằm ngửa, hai chân dạng rộng. Đầu quay hướng ra cửa. Hai tay dang ngang cao quá vai, bàn tay ngửa - tư thế bị đè đến chết. Không có phản ứng kháng cự. Trên cổ tay trái còn đeo một chiếc vòng.

Áo lót bị kéo ngược lên trên hai bầu vú, làm lộ hai núm vú. Áo ngực không dính máu, không dấu tay – cho thấy nạn nhân bị kéo áo trước khi bị cắt cổ. Vì nếu kéo áo sau khi cắt cổ thì máu sẽ chảy ra rất nhiều, loang xuống. Áo ngoài bị cuộn hẳn lên trên áo lót, gần sát cổ, để lộ trần toàn bộ khuôn ngực và lưng.

Trên mặt có các vết cắt do vật sắc bén tạo nên, nhiều chiều (ngang, dọc, chéo …) – giống như vết cắt cố ý và mang tính chất “tra tấn”. Môi, miệng bị xưng và bầm tím. Ngoài ra, tại Biên bản khám nghiệm tử thi (BL 56) và Bản giám định pháp y (BL 60) đều ghi nhận “Có một số vết bầm máu làm da sậm màu ở mặt trước đùi chân phải, mặt trước cẳng chân trái”.

Những vết thương phức tạp về hình dáng (vết  cắt, vết sưng, bầm) này do cái gì gây ra trong khi Cáo trạng chỉ ghi nhận Hải dùng thớt gỗ tròn đánh lên đầu, mặt của Hồng và cắt cổ Hồng hai cái.

Hải không hề vén áo Hồng thì vì sao áo lại được cuộn lên quá ngực?

Đã kháng nghị Huỳnh Văn Nén thì phải kháng nghị Hồ Duy Hải

Chỉ xét về mặt chứng cứ tang vật, ghi nhận hiện trường vụ án, có điểm chung giữa vụ án Huỳnh Văn Nén và vụ án Hồ Duy Hải đều là vụ án không quả tang, quá trình điều tra, xét xử về tội “Giết người” và “Cướp tài sản” đã có nhiều thiếu sót, vi phạm. Cụ thể, trong việc thu thập vật chứng, khám nghiệm hiện trường…

Bên cạnh đó, các lời khai nhận tội ban đầu của Nén và của Hải không phù hợp với hiện trường và biên bản khám nghiệm tử thi.

TANDTC đã tuyên hủy sơ thẩm về phần tội danh và hình phạt tội “Giết người”, “Cướp tài sản” đối với Huỳnh Văn Nén để điều tra lại sau khi VKSNDTC có kháng nghị cho rằng bản án tòa cấp sơ thẩm đã tuyên “chưa đủ căn cứ vững chắc”.

VKSNDTC cũng cần có kháng nghị tương tự đối với vụ án Hồ Duy Hải. Và “án lệ Huỳnh Văn Nén” chưa phải là duy nhất…

Sài Gòn Báo sẽ có tiếp bài “án lệ Hàn Đức Long” để cho thấy có đầy đủ căn cứ để kháng nghị vụ án Hồ Duy Hải.

Minh Tâm




Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2015

Vụ án Hồ Duy Hải: từ chối kháng nghị là vi phạm quyền con người

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Lê Thị Nga cho rằng vụ Hồ Duy Hải có đầy đủ cả 4 căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm.




Nhiều thành viên đoàn giám sát đã đề xuất kháng nghị vụ án Hồ Duy Hải giết 2 nữ nhân viên Bưu điện Cầu Voi (Long An) năm 2008. Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga, người dành nhiều công sức nghiên cứu vụ trọng án này, cho rằng có nhiều căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm theo điều 273 của Bộ Luật Tố tụng hình sự.

Bà Nga cho biết điều 273 của Bộ Luật Tố tụng hình sự quy định đối với 1 vụ án, chỉ cần 1 trong 4 căn cứ: có nhiều vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra; việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa không đầy đủ, không làm rõ được những mâu thuẫn trong vụ án; kết luận trong bản án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ Luật Hình sự là đủ điều kiện kháng nghị giám đốc thẩm.

“Vụ Hồ Duy Hải có đầy đủ cả 4 căn cứ trên. Với tư cách phó đoàn giám sát và đại biểu QH, tôi đã gửi kiến nghị đến Chủ tịch nước về vụ này. Quan điểm là xem lại 2 bản án kết tội Hồ Duy Hải có đủ căn cứ không?” - bà Nga cương quyết.

Tuy nhiên trong phiên họp của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, ông Trương Hòa Bình – Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã cho rằng “không có căn cứ để kháng nghị”. Ông Bình còn cho rằng đây cũng là quan điểm của ông Nguyễn Hòa Bình – Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Bất ngờ hơn là phó Chánh án tối cao Nguyễn Sơn gián tiếp cho biết bà Lê Thị Nga nói không đúng sự thật.

Ông Nguyễn Sơn khẳng định:

“Về cơ bản hôm vừa rồi tại cuộc họp về báo cáo giám sát do Ủy ban Tư pháp tổ chức, chúng tôi đã nghe và thống nhất với nhau tinh thần chung đối với Hồ Duy Hải là không oan”.

Ông Sơn cho rằng Hồ Duy Hải đúng là giết 2 người, nhưng trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra có một số vi phạm về vấn đề thu, giữ chứng cứ, tài liệu chứng cứ, thu thập chứng cứ.

Vì sao lại công khai vi phạm quyền con người?

Tại phiên Rà soát định kỳ Phổ quát về quyền con người (Universal Periodic Review - UPR) chu kỳ II về tình hình thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người và tự do cơ bản tại Việt Nam trong khuôn khổ Khoá họp lần thứ 18 Nhóm làm việc về UPR của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc ngày 05-02-2014, trong bài phát biểu của mình,

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc đã khẳng định:

“Một trong những ưu tiên cao nhất của Việt Nam trong nhiều năm qua cũng như trong thời gian tới là đẩy mạnh việc kiện toàn hệ thống pháp luật, chính sách và thể chế về đảm bảo quyền con người, xây dựng Nhà nước pháp quyền, đảm bảo sự thụ hưởng ngày càng đầy đủ hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân.

Việt Nam đã ban hành và tích cực triển khai Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nhằm đảm bảo mục tiêu xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, từng bước hiện đại, phục vụ phát triển đất nước và bảo vệ nhân dân”.

“Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị” (tiếng Anh: International Covenant on Civil and Political Rights, viết tắt: ICCPR), khoản 5 Điều 14 ICCPR quy định: “Bất kỳ người nào bị kết án là phạm tội đều có quyền yêu cầu tòa án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định của pháp luật”.

Trong Bình luận chung số 13 Phiên họp thứ 21 năm 1984, Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (tiếng Anh: Human Rights Committee) cũng giải thích thêm rằng người bị kết án là phạm tội có quyền yêu cầu tòa án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình cần được áp dụng với mọi trường hợp phạm tội chứ không chỉ với những trường hợp phạm tội nghiêm trọng.

Trong pháp luật Việt Nam, việc xét xử của tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử, đó là: Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng; các bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do luật định thì có hiệu lực pháp luật.

Đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.

Đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Mặc dù nhìn nhận quá trình điều tra vụ án Hồ Duy Hải có nhiều sai sót về mặt tố tụng, song ông Trương Hòa Bình và ông Nguyễn Hòa Bình đều từ chối kháng nghị theo thủ tục giám đốc, không chỉ là vi phạm Điều 272 Bộ luật tố tụng hình sự 2003, mà còn là vi phạm vào “Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị”, mà Việt Nam gia nhập vào Công ước này ngày 24/9/1982.

Có thể tái thẩm

Vụ án Hồ Duy Hải còn có thể xem xét theo trình tự tái thẩm.

Từng là sĩ quan công an, nhà báo Đỗ Vinh của Sài Gòn Báo sẽ có bài viết phân tích các yếu tố dùng căn cứ cho Cục Điều tra của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, đề nghị xem xét vụ án Hồ Duy Hải theo thủ tục kháng nghị tái thẩm.

Đỗ Vinh


Vụ án Hồ Duy Hải: Những căn cứ cho kháng nghị

Chánh Tòa tối cao Trương Hòa Bình và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình đều cho rằng, “không có căn cứ cho kháng nghị vụ án Hồ Duy Hải”.

Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện nhận định: “Vụ Hồ Duy Hải cần phải kháng nghị giám đốc thẩm”.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Lê Thị Nga cho rằng vụ Hồ Duy Hải có đầy đủ cả 4 căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm.

5 CĂN CỨ PHÁP LÝ CHO ĐỀ NGHỊ
Nhóm luật sư của Sài Gòn Báo cho rằng có 5 căn cứ về quy định pháp lý cho đề xuất kháng nghị vụ án Hồ Duy Hải theo trình tự giám đốc.

1. Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS), Điều 273. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

2. Điều 3 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2006, 2009) quy định: “Hoạt động điều tra phải […] làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội”.

3. Thông tư 28/2014 của Bộ Công An về công tác điều tra hình sự trong công an nhân dân ghi nhận một trong những nguyên tắc hoạt động điều tra là “phát hiện làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội”.

4. Theo khoản 2 Điều 65 BLTTHS, người tham gia tố tụng “có thể đưa ra tài liệu, đồ vật và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án”.

5. BLTTHS, Điều 10. Xác định sự thật của vụ án.

4 CĂN CỨ CỦA ĐIỀU 273

Bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, khi có một trong những căn cứ sau đây:

1. Việc điều tra xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ;

2. Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

3. Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử;

4. Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật hình sự.

11 TÌNH TIẾT PHÙ HỢP 4 CĂN CỨ CỦA ĐIỀU 273

Những tình tiết sau đây cho thấy phù hợp với cả 4 căn cứ được nêu tại Điều 273, BLTTHS:

1. Nguyễn Văn Sơn; Nguyễn Tuấn Anh; Trần Văn Chiến; Nguyễn Văn Nghị; Nguyễn Mi Sol; Trung: 6 đối tượng nghi vấn này vì sao không còn bản ghi lời khai trong hồ sơ vụ án?

2. Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ghi nhận trên kính cửa vào buồng ngủ, ở mặt trong của kính trên cánh cửa buồng vệ sinh trên labo rửa có 1 số dấu vết đường vân.

Những vết vân tay này đều đã được cơ quan điều tra khi khám nghiệm hiện trường thu giữ.

Theo kết quả giám định (Bản kết luận giám định số 158/KL-PC21 ngày 11-4-2008) thì: “Các dấu vết vân tay thu được tại hiện trường vụ án không phát hiện trùng với điểm chỉ 10 ngón in trên bản chỉ của Hồ Duy Hải”.

3. Vì sao trong hồ sơ vụ án không có kết quả giám định vân tay của những người có quan hệ tình cảm và có khả năng có mặt tại bưu điện Cầu Voi tối 13-1-2008 như Nguyễn Văn Sơn; Nguyễn Tuấn Anh; Trần Văn Chiến; Nguyễn Văn Nghị; Nguyễn Mi Sol; Trung.

Việc truy tìm dấu vân tay có thể làm được thông qua tàng thư căn cước nhưng các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử đều không được làm rõ.

4. Một kẻ đòi hỏi tình dục, người phụ nữ từ chối, nếu có bạo lực thì sử dụng một vật cứng hay dao uy hiếp chứ khó có thể đi xuống bếp cầm cái thớt để đập vào đầu nạn nhân!

5. Việc kiểm tra lưỡi dao Thái Lan và vết cắt nơi cổ có phù hợp hay không cần phải có giám định của cơ quan hình sự pháp y?

6. Diễn tiến sự việc cho thấy hung thủ dùng vật cứng đập vào đầu nạn nhân và dùng dao cắt cổ khi cửa đang mở là không phải hành động của sát thủ chuyên nghiệp, hoặc ngay cả đối với tâm lý của người không chuyên nghiệp giết người.

7. Giám định nào để xác định nạn nhân Hồng bị giết trước và nạn nhân Vân bị giết sau?

8. Khả năng nạn nhân bị giết từng người một là dựa vào đâu?

9. Tang vật mà kẻ thủ ác cướp được đã bán cho ai?

10. Bút lục số 205 có biên bản xác nhận đồ vật được lập vào lúc 13g50 ngày 26-6-2008 tại phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội – công an tỉnh Long An.

Tuy nhiên, chiếc thớt (hung khí gây án) làm chứng cứ nêu trong bút lục 205, cơ quan điều tra đã cho chị Nguyễn Thị Thu Hiếu (bạn của nạn nhân) đi mua tấm thớt gỗ tròn (có đường kính 27cm, độ cao 4cm) được chị Hiếu xác nhận là giống với chiếc thớt ở Bưu cục Cầu Voi mà chị đã nhìn thấy chị Hồng và chị Vân (hai nạn nhân) thường sử dụng để giao nộp cho cơ quan điều tra để bổ sung hồ sơ.

11. Hội đồng xét xử nhận định con dao là hung khí mà Hồ Duy Hải dùng để cắt cổ hai nạn nhân.

Khi khám nghiệm hiện trường thì cơ quan điều tra đã không phát hiện được con dao. Ngày hôm sau, các dân phòng đến dọn dẹp hiện trường lại thấy một con dao Thái Lan và có báo với công an, nhưng do dao không dính máu nên không thu giữ, và đã đốt con dao đó cùng các vật dụng khác.

NGHI VẤN BÀN TAY CỦA PHE NHÓM?

Các căn cứ pháp lý nói trên cho kháng nghị vụ án Hồ Duy Hải, không cần đến luật sư, mà chỉ cần một sinh viên năm thứ nhất trường luật cũng nhận ra.

Góc nhìn tư pháp độc lập, Ls. Lê Công Định cho rằng oan sai trong từng giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử chung quy là do hệ thống tư pháp Việt Nam hoàn toàn không độc lập. Đây là gốc của mọi vấn đề.

“Khi toà án còn được xem là một loại cơ quan nhà nước, trong đó thẩm phán là quan chức và đảng viên, và "cơ quan" đó vẫn phải phục tùng sự lãnh đạo chung của đảng cầm quyền, thì oan sai là căn bệnh bất trị, bàn giải pháp chi cho mất thời giờ!”.

“Tóm lại, cần phải tranh đấu để đạt đến một thể chế tam quyền phân lập”.

Ls. Lê Công Định nói không sai.

Bởi vì từ ít nhất 11 tình tiết nói trên, căn cứ vào Điều 274 của BLTTHS, “Phát hiện bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm”, và theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, chỉ có thể lý giải cả Tòa tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao sở dĩ “quyết trảm”, vì đàng sau vụ án là thế lực nào đó của quân bài trên bàn cờ chính trị đại hội Đảng lần thứ 12 sẽ diễn ra vào đầu năm 2016.


Minh Tâm





Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2015

Công an - Tòa án - Viện kiểm sát đồng trách nhiệm về việc vu oan Hồ Duy Hải

Căn cứ theo pháp luật tố tụng hình sự, không đúng như lời phát biểu của ngài chánh tòa tối cao Trương Hòa Bình, ở đây việc tìm “chứng cứ xác định vô tội” đối với Hồ Duy Hải, trước tiên là theo về cả 3 cơ quan: Công an tỉnh Long An – Tòa án tỉnh Long An/ Tòa tối cao – Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An/ Viện Kiểm sát tối cao. Một câu hỏi được đặt ra: liệu cơ quan điều tra, tòa án, viện kiểm sát có quyền từ chối thực hiện các yêu cầu liên quan đến chứng cứ có lợi cho bị cáo? Mở rộng hơn, cơ quan điều tra và viện kiểm sát có nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ gỡ tội cho bị can, bị cáo trong một vụ án hình sự hay không? Trả lời: cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án đều có trách nhiệm tìm chứng cứ vô tội của bị can, bị cáo.

Điều 3 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2006, 2009) quy định: “Hoạt động điều tra phải […] làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội”. Thông tư 28/2014 của Bộ Công An về công tác điều tra hình sự trong công an nhân dân cũng ghi nhận một trong những nguyên tắc hoạt động điều tra là “phát hiện làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội”. Theo khoản 2 Điều 65 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS), người tham gia tố tụng “có thể đưa ra tài liệu, đồ vật và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án”. Điều này có nghĩa bị can, bị cáo và luật sư đại diện có quyền đưa ra chứng cứ gỡ tội trong trường hợp bên điều tra bỏ sót. “Điều 10. Xác định sự thật của vụ án. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”. (Trích BLTTHS) Tuy nhiên, hiện tại chưa có cơ chế ràng buộc cơ quan điều tra phải thu thập chứng cứ xác định vô tội cũng như xem xét cẩn trọng bằng chứng do bên bị can cung cấp.

Xét trong điều kiện tố tụng hình sự Việt Nam vốn theo mô hình thẩm vấn – tức hoạt động xét xử của tòa chủ yếu dựa trên hồ sơ vụ án do cơ quan điều tra và viện kiểm sát xây dựng – rõ ràng bị can, bị cáo đang phải chịu một bất lợi lớn. Nói một cách khác, Điều 10 BLTTHS mới chỉ dừng lại ở nguyên tắc, chưa có những nghĩa vụ pháp lý cụ thể ràng buộc trách nhiệm. Điều này dẫn đến xu hướng chú trọng chứng cứ buộc tội và xem nhẹ chứng cứ gỡ tội của cơ quan điều tra và cơ quan công tố. Hậu quả là tình trạng bỏ qua bằng chứng có lợi cho bị can, bị cáo với trường hợp của Hồ Duy Hải là một ví dụ. Tuy nhiên đã là một nhà nước của dân, do dân và vì dân thì không lẽ nào nhà nước ấy lại đành đoạn hại một công dân như Hồ Duy Hải? Ở đây còn có hai linh hồn uổn tử là hai cô gái bị sát hại tại Bưu điện Cầu Voi. Kẻ thủ ác có phải là “con ông cháu cha” nên buộc lòng phải tìm vật tế thần thay thế?


Minh Tâm